Khe chim kêu – tác giả, nội dung, bố cục, tóm tắt, dàn ý


Khe chim kêu – tác giả, nội dung, bố cục, tóm tắt, dàn ý

Nhằm mục đích giúp học sinh nắm vững kiến thức tác phẩm Khe chim kêu Ngữ văn lớp 10, bài học tác giả – tác phẩm Khe chim kêu trình bày đầy đủ nội dung, bố cục, tóm tắt, dàn ý phân tích, sơ đồ tư duy và bài văn phân tích tác phẩm.

A. Nội dung tác phẩm Khe chim kêu

Phiên âm

Nhân nhàn quế hoa lạc,

Dạ tĩnh xuân sơn không.

Nguyệt xuất kinh sơn điểu,

Thời minh tại giản trung.

Dịch nghĩa

Người nhàn, hoa quế rụng,

Đêm yên tĩnh, non xuân vắng không.

Trăng lên làm chim núi giật mình,

Thỉnh thoảng cất tiếng kêu trong khe suối.

Dịch thơ

Bản dịch thứ nhất:

Người nhàn hoa quế nhẹ rơi,

Đêm xuân lặng ngắt trái đồi vắng tanh.

Trăng lên, chim núi giật mình,

Tiếng kêu thủng thẳng đưa quanh khe đồi.

(NGÔ TẤT TỐ dịch)

Bản dịch thứ hai:

Người nhàn hoa quế rụng,

Đêm xuân núi vắng teo.

Trăng lên chim núi hãi,

Dưới khe chốc chốc kêu.

(TƯƠNG NHƯ dịch)

See also  Bài thơ “Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra” thuộc thể thơ gì?

B. Tìm hiểu tác phẩm Khe chim kêu

1. Tác giả

– Vương Duy (701 – 761), tự là Ma Cật.

– Quê ở đất Kĩ, Thái Nguyên (nay thuộc tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc).

– Năm 21 tuổi ông đỗ tiến sĩ, ra làm quan, nhưng có một thời gian dài ông sống như người ẩn dật, “mỗi lần bãi triều về là đốt hương ngồi một mình, đọc kinh niệm Phật”.

– Cùng với Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy là đại biểu của phái thơ sơn thủy (thơ lấy thiên nhiên làm đề tài) thời Thịnh Đường.

– Thơ Vương Duy hiện còn hơn 400 bài.

– Phong cách thơ: tinh tế, trang nhã.

– Đặc trưng thơ: Vương Duy đặc biệt thành công trong cả hai mảng thơ: thơ điền viên sơn thuỷ và thơ thiền, cho dù không phải bao giờ cũng có sự tách bạch đó.

+ Ở mảng thơ điền viên sơn thuỷ, Vương Duy tỏ ra là một nhà ngôn ngữ hội họa tài ba, tức là giỏi “gợi” vậy.

+ Ở mảng thơ thiền, Vương Duy là một “thiền sư” triết lý thâm trầm bằng ngôn ngữ “thiền vô ngôn thiền” của mình.

⇒ Nhưng xét cho cùng, chất “gợi” và chất “làm thinh” thường ở trong nhau. “Gợi” chính là để “nói ít thôi, làm thinh nhiều hơn”. Do vậy, trong thơ điền viên sơn thuỷ có ý vị thiền; trong thơ thiền có cảnh sơn thuỷ điền viên.

2. Tác phẩm

a. Bố cục

See also  Soạn bài Bài thơ số 28 ngắn nhất

– Hai câu đầu: Cảnh thanh vắng, an nhàn.

– Hai câu sau: Khoảnh khắc xao động, nhiều dư âm của khung cảnh.

b. Thể loại: Ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật.

c. Phương thức biểu đạt: Biểu cảm.

d. Giá trị nội dung:

Khe chim kêu là bài miêu tả cảnh thanh nhàn, yên tĩnh của một vùng núi hoang sơ.

– Cảnh đẹp như một bức tranh với những âm thanh của hoa quế rụng, trăng lên hay là tiếng chim kêu thảng thốt trong màn đêm tĩnh lặng.

e. Giá trị nghệ thuật

– Nghệ thuật lấy động tả tĩnh, lấy hình gợi âm.

– Ngôn ngữ hàm súc, cô đọng, tinh tế.

C. Sơ đồ tư duy Khe chim kêu

Khe chim kêu

D. Đọc hiểu văn bản Khe chim kêu

1. Hai câu thơ đầu:

Nhân nhà quế hoa lạc

Dạ tĩnh xuân sơn không.

(Người nhàn hoa quế nhẹ rơi,

Đêm xuân lặng ngắt trái đồi vắng tanh.)

– Hai câu thơ đầu thể hiện hình ảnh con người sống trong cảnh nhàn hạ, đó là cuộc sống của người ẩn sĩ nơi điền viên sơn thủy để hòa mình vào thiên nhiên.

– Có sự giao hòa, giao cảm một cách tự nhiên giữa người và cảnh: Trong đêm tĩnh lặng, thi nhân nghe được tiếng hoa quế rơi. → tâm hồn nhạy cảm của thi nhân và sự tĩnh lặng trong chính tâm hồn của thi nhân

– Sự kết hợp của ba từ “lạc” (rụng), “tĩnh” (vắng lặng), “không” (vắng không): gợi sự tịch mịch của cảnh đêm nơi rừng núi.

See also  Soạn bài Tức cảnh Pác Bó ngắn nhất

⇒ Cảnh và người thật hòa hợp, người thì nhàn nhã, cảnh thì thanh tao, những bông hoa li ti nhẹ rơi càng làm tăng thêm vẻ tĩnh mịch. Đêm đã yên tĩnh, đêm trên núi vắng mùa xuân lại càng tĩnh lặng hơn.

2. Hai câu thơ sau:

Nguyệt xuất kinh sơn điểu,

Thời minh tại giản trung.

(Trăng lên, chim núi giật mình,

Tiếng kêu thủng thẳng đưa quanh khe đồi)

– Không khí yên tĩnh tới mức mà một ấn tượng về thị giác (trăng lên) đã tạo nên hiệu quả như một tiếng động.

– Ánh sáng của ánh trăng lan tỏa làm kinh động đến tiếng chim núi, làm chim núi bừng tỉnh, giật mình, thảng thốt. Ánh trăng lên không tiếng động vậy mà làm chim núi giật mình, điều đó cho thấy cảnh yên đến mức chỉ một thay đổi nhỏ cũng đủ làm khuấy động sự yên tĩnh.

– Hai câu thơ dường như có sự chuyển dịch từ không gian tĩnh và tối (hai câu đầu) sang động, sáng rõ hơn. Đó là sự xuất hiện của ánh sáng (trăng lên) và âm thanh (chim núi cất tiếng kêu) làm tô điểm thêm cho sự tĩnh lặng của cảnh vật.

⇒ Nhà thơ lấy cái động để thể hiện cái tĩnh – sự tĩnh lặng của đêm và sự bình yên trong tâm hồn.

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Văn mẫu