Hoàn cảnh sáng tác Truyện kiều | Myphamthucuc.vn

Câu hỏi: Hoàn cảnh sáng tác Truyện Kiều

Lời giải:

         Có nhiều giả thuyết xoay quanh hoàn cảnh ra đời của Truyện Kiều. Có thuyết nói Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc (1814-1820) (ý kiến của nhà nghiên cứu văn học Hoàng Xuân Hãn). Hoàng Xuân Hãn cho rằng, Nguyễn Du đi xứ Trung Quốc đã tiếp cận được với Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Trên cơ sở đó, đã tiếp biến mà viết ra Truyện Kiều.

         Có thuyết lại cho rằng ông viết trước khi đi sứ, có thể vào khoảng cuối Lê đầu Tây Sơn (ý kiến của học giả Đào Duy Anh). Học giả Đào Duy Anh căn cứ vào những ghi chép trong Đại Nam liệt truyện và đưa ra nhận định. Sách này có đoạn: “Ông giỏi thơ lại sành quốc âm, sau khi đi xứ về có Bắc hành thi tập và truyện Thúy Kiều còn lại đến ngày nay”. Đào Duy Anh phản bác: “Liệt truyện căn cứ vào khẩu truyền thiếu chính xác nên đã ghi là Bắc hành thi tập và truyện Thúy Kiều như nhân gian thường gọi chứ không ghi chính xác là Bắc hành tạp lục và Đoạn trường tân thanh đúng tên gốc của nó”.

         Thuyết sau được nhiều người chấp nhận hơn. Các học giả bằng việc khảo cứu tài liệu trong và ngoài nước tiếp tục truy nguyên nguồn gốc ra đời của Truyện Kiều. Dựa trên đó có thể khẳng định chắc chắn rằng Nguyễn Du có tiếp cận và tiếp biến cốt truyện tác phẩm Kim-Vân-Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Còn việc Nguyễn Du viết truyện Kiều khi nào vẫn còn chưa thấu rõ.

         Ngay sau khi ra đời, Truyện Kiều được nhiều nơi khắc in và lưu hành rộng rãi. Hai bản in xưa nhất hiện còn là bản của Liễu Văn Đường (1871) và bản của Duy Minh Thị (1872), đều ở thời vua Tự Đức.

         Truyện dựa theo bộ truyện văn xuôi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, lấy bối cảnh Trung Quốc thời vua Gia Tĩnh Đế đời nhà Minh (từ năm 1521 tới năm 1567). Có một số nhân vật như tổng đốc Hồ Tôn Hiến, kỹ nữ Vương Thúy Kiều, nhân vật Từ Hải là có thật trong lịch sử.

         Bản in khắc đầu tiên năm 1920 có tựa chính thức là Đoạn trường tân thanh, có nghĩa là ” tiếng kêu mới về nỗi đau lòng đứt ruột”.

Các em cùng Toploigiai tìm hiểu thêm về Truyện Kiều nhé!

1. Tác giả Nguyễn Du

a. Cuộc đời

         Sinh ra trong một gia đình quyền thế có truyền thống khoa hoạn nổi danh ở làng Tiên Điền, Nguyễn Du thừa hưởng được sự thông minh và sắc sảo từ người cha Nguyễn Nghiễm (đã từng làm quan tới chức Đại tư đồ hay còn gọi là Tể Tướng).

         Năm ông lên 1 tuổi, cha của ông được phong lên làm Thái tử thái bảo nên cuộc sống thuở ấu thơ của ông sống trong nhung lụa sung sướng, giàu sang phú quý.

         Năm 1774, Nguyễn Nghiễm được sung chức Tể tướng và đi đánh chúa Nguyễn ở Đàng trong, cũng trong thời gian này cuộc đời của Nguyễn Du bước sang trang mới, chịu nhiều mất mát tổn thương từ tinh thần tới vật chất.

         Năm 1775, chứng kiến anh trai Nguyễn Trụ qua đời, khởi đầu cho những bi kịch sắp đến.

         Năm 1776, nhận được tin cha mất, ông bắt đầu nếm những trái đắng của cuộc đời.

         Năm 1778, người mẹ thân yêu nhất của ông cũng rời bỏ ông đi. Chỉ trong một thời gian ngắn, ông mồ côi cả cha và mẹ. Năm 13 tuổi, ông chuyển tới ở cùng với anh trai cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản.

         Nhưng bi kịch không dừng tại đây, năm 1780 anh Nguyễn Khản bị khép tội và giam ở nhà Châu Quận Công, chỉ mới 15 tuổi ông được người quen của cha mình đưa về Sơn Nam Hạ nuôi ăn học.

         Năm 1782, người anh cả Nguyễn Khản được thả tự do và phong làm Thượng Thư Bộ Lại, anh thứ hai là Nguyễn Điều được làm trấn thủ Sơn Tây.

         Năm 1783 ông đi thi Hương và đậu Tam đồ, lấy vợ là con gái Đoàn Nguyễn Thục, được chỉ huy đội quân hùng mạnh nhất Thái Nguyên.

         Năm 1786, anh trai ông là Nguyễn Khản bị bệnh qua đời. Năm 1787 sau trận chiến với quân Tây Sơn, ông bỏ đi giang hồ không nơi trú ngụ.

         Cuối năm 1790, ông quay trở về Thăng Long và bắt đầu mối tình với Hồ Xuân Hương được khoảng 3 năm.

         Năm 1805, ông được thăng Đông các đại học sĩ nhậm chức ở kinh đô Phú Xuân.

         Năm 1807 ông được làm giám khảo thi Hương ở Hải Dương và một năm sau đó ông xin nghỉ về quê.

         Năm 1809, ông được bổ nhiệm làm cai bạ ở Quảng Bình.

         Năm 1813, ông được phong làm Cần Chánh điện học sĩ và làm quán sứ nhà Thanh.

         Năm 1820, Gia Long qua đời, vua Minh Mạng nối ngôi. Chính năm này ông được qua sứ Thanh báo tang và ông mắc bệnh dịch tả qua đời vào ngày 16 tháng 09 cùng năm.

         Năm 1824, di cốt của ông mới được cải táng mang về quê nhà ở Hà Tĩnh chôn cất.

READ  Sơ đồ tư duy phân tích Vợ chồng A Phủ ngắn gọn nhất | Myphamthucuc.vn

b. Sự nghiệp của văn học 

         Nguyễn Du là người có trình độ học vấn cao, ông có thể thành thục rất nhiều thể thơ của Trung Quốc từ thơ lục bát, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật, ca, hành… Chính vì vậy thơ văn của ông chứa đầy những cảm xúc và thể thơ nào ông cũng có bài ấn tượng sâu sắc với nhân loại.

         Dòng văn của ông chủ yếu bao quát về nhân sinh – thế sự, ít có bài nào nói về quốc gia.

         Nguyễn Du nổi tiếng với tác phẩm Truyện Kiều mà trong chúng ta ai cũng đã từng đọc qua và ghi nhớ một vài câu thơ.

         Tác phẩm Truyện Kiều được Nguyễn Du sáng tác dựa trên tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân vào những năm 1814-1820 khi ông đi Trung Quốc. Truyện gồm có 3254 câu thơ viết ở thể thơ Lục bát.

         Năm 1871 và 1872 ở thời vua Tự Đức 2 bản in truyện Kiều được phát hành và được sự đón nhận của cộng đồng nhân dân lúc này.

         Hiện nay, tác phẩm Truyện Kiều được xem là một trong những cuốn truyện thơ nổi tiếng và kinh điển nhất trong văn học Việt Nam.

         Truyện kể về cuộc đời của Thúy Kiều, từ cô gái xinh xắn nết na, tài sắc vẹn toàn vì phải cứu cha và em trai mà cô phải bán thân. Không may gặp Sở khanh và bị bán và ép làm kỹ nữ cuộc đời cô bước sang trang sách mới. Chúng ta có thể đọc “Truyện Kiều” để hiểu chi tiết hơn.

         Ngoài ra, ông còn một số tác phẩm để đời như Thanh Hiên thi tập ( tập thở của Thanh Hiên, gồm 78 bài ông viết trong những năm 1786-1804), Nam Trung tạp ngâm ( ngâm nga lặt vặt lúc ông ở miền Nam gồm 40 bài), Bắc hành tạp lục (ghi chép lung tung khi ông hành sứ sang phương bắc, gồm 131 bài thơ), văn chiêu hồn, văn tế sống Trường Lưu nhị nữ.

         Những tác phẩm mà ông để lại xứng đáng sánh ngang tầm với văn học nước ngoài, đặc biệt là tác phẩm Truyện Kiều. Ở bất cứ tầng lớp nào, mọi người cũng có thể cảm nhận được tình người, thấy rõ được xã hội đồng tiền và vật chất quan trọng như thế nào trong những câu thơ.

         Nguyễn Du là một nhà thi hào dân tộc, ông luôn sống hết mình vì đất nước, chất chứa tình thương yêu với con người, khát khao mãnh liệt cuộc sống bình yên cho dân tộc, đất nước.

         Hiện nay, Nguyễn Du là một trong những danh nhân dân tộc được thế giới tôn vinh. Để tưởng nhớ đến ông, ngày nay mọi người lấy tên ông đặt tên trường và các con đường lớn để khắc sâu và ghi nhớ về ông.

2. Truyện Kiều

         Đoạn trường tân thanh  thường được biết đến với cái tên đơn giản là Truyện Kiều , là một truyện thơ của đại thi hào Nguyễn Du. Đây được xem là truyện thơ nổi tiếng nhất và xét vào hàng kinh điển trong văn học Việt Nam, tác phẩm được viết bằng chữ Nôm theo thể lục bát, gồm 3254 câu.

         Câu chuyện dựa theo tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, một thi sĩ thời nhà Minh, Trung Quốc.

         Tác phẩm kể lại cuộc đời, những thử thách và đau khổ của Thúy Kiều, một phụ nữ trẻ xinh đẹp và tài năng, phải hy sinh thân mình để cứu gia đình. Để cứu cha và em trai khỏi tù, cô bán mình kết hôn với một người đàn ông trung niên, không biết rằng hắn ta là một kẻ buôn người, và bị ép làm kĩ nữ trong lầu xanh.

3. Các phần trong Truyện Kiều

– Phần 1: Gặp gỡ và đính ước. 

         Thúy Kiều là người con gái tài sắc vẹn toàn, sống trong cảnh êm ấm cùng cha mẹ và hai em. Trong buổi du xuân vô tình gặp Kim Trọng. Hai bên nảy sinh tình cảm và chủ động, tự do đính ước. 

– Phần 2: Gia biến và lưu lạc. 

         Khi Kim Trọng về quê, gia đình Kiều gặp tai biến. Kiều bán mình chuộc cha, nhờ Thúy Vân trả nghĩa cho kim Trọng và bị bọn buôn người lừa vào lầu xanh. Kiều gặp Thúc Sinh và được Thúc Sinh cứu thoát khỏi cuộc đời kĩ nữ nhưng lại bị vợ cả của TS đày đọa. Kiều phải trốn đi và nương nhờ cửa Phật. Nhưng không may, Kiều lại rơi vào lầu xanh lần nữa. Ở đây nàng gặp Từ Hải. Từ Hải lấy Kiều làm vợ và giúp nàng báo ân, oán. Do bị Hồ Tôn Hiến lừa, Từ Hải bị giết, Kiều bị ép gả cho viên thổ quan. Đau đớn, tủi nhục, Kiều nhảy sông tự vẫn nhưng được sư Giác Duyên cứu và lại nương nhờ cửa Phật. 

– Phần 3: Đoàn tụ. 

         Sau khi biết Kiều bán mình chuộc cha, Kim Trọng đau đớn vô cùng. Tuy đã lấy Thúy Vân nhưng chàng vẫn không nguôi mối tình đầu say đắm và quyết tâm đi tìm Kiều. Nhờ gặp sư Giác Duyên, Kiều, Trọng gặp nhau, gia đình đoàn tụ. Kiều chiều ý mọi người kết duyên cùng Kim Trọng nhưng cả hai cùng thề nguyện ” duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy”.

4. Tóm tắt Truyện Kiều

         Vương Thuý Kiều là người con gái tài sắc vẹn toàn. Nàng xuất thân từ một gia đình trung lưu, dưới Kiều còn hai em là Thuý Vân và Vương Quan. Trong Tết Thanh minh, Kiều cùng hai em đi tảo mộ. Trong dịp này nàng gặp Kim Trọng – một chàng trai “Phong tư tài mạo tót vời / Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”. Hai người vừa gặp nhau “tình trong như đã mặt ngoài còn e”. Cũng trong dịp này, Kiều gặp nấm mồ vô cùng hiu quạnh, nàng cảm cảnh mà khóc than cho số phận của người kĩ nữ ấy. Trở về nhà, nàng được linh hồn Đạm Tiên báo trước cho những dông bão đời mình.

READ  Phương pháp giải các dạng bài tập về quá trình phiên mã và dịch mã | Myphamthucuc.vn

         Sau khi gặp Thuý Kiều ớ buổi Thanh minh, Kim Trọng dò la tin tức của nàng rồi dọn nhà đến gần nhà Kiều và tìm cách làm quen. Nhân buổi cha mẹ vắng nhà, Kiều sang nhà Kim Trọng tâm tình. Mối tình giữa hai người nảy nở tốt đẹp, họ vừa yêu vừa trọng nhau rất mực. Họ đã thề nguyền và trao vật đính ước với nhau.

         Gia đình Kim Trọng có tang, chàng phải về quê chịu tang. Trong khi đó, cha Kiều bị thằng bán tơ vu oan. Gia đình Kiều tan nát, Vương ông và Vương Quan bị tra khảo. Kiều phải bán mình để chuộc cha. Trước khi theo Mã Giám Sinh, nàng đã nhờ Thuý Vân nối duyên với Kim Trọng đế không phụ tình chàng. Nhưng bi kịch chưa dừng lại ở đó. Hoá ra, Mã Giám Sinh với Tú Bà đều là những kẻ buôn thịt bán người. Ở lầu xanh, nàng đã toan tự sát nhưng không thành. Sau đó, Kiều tiếp tục bị Sở Khanh lừa tình, nàng cay đắng chấp nhận cuộc sống đầy tủi nhục. Tại đây, ít lâu sau, Kiều được Thúc Sinh cứu thoát. Nhưng Thúc Sinh đã có vợ là Hoạn Thư ở quê nhà. Biết chuyện của chồng, Hoạn Thư đã ngấm ngầm sai người đến bắt cóc Thuý Kiều về làm con ở rồi làm ra cảnh bắt Kiều hầu hạ hai vợ chồng mình trong tiệc rượu hàn huyên. Bị đánh ghen một cách tàn nhẫn, Kiều bỏ trốn đến nương nhờ cửa Phật. Chẳng may sư trụ trì vô tình gửi nàng cho Bạc Hạnh – một kẻ cùng nghề với Tú Bà, Kiều lại bị rơi vào lầu xanh một lần nữa. Tại đây, Kiều gặp Từ Hải – một đấng nam nhi đầu đội trời chân đạp đât. Từ Hải cứu Kiều khỏi lầu xanh rồi giúp nàng báo ân báo oán. Vì một chút sơ sẩy, Kiều bị Hồ Tôn Hiến, một mệnh quan triều đình lừa nên đã hại Từ Hải chết đứng giữa trận tiền. Nàng còn bị Hồ Tôn Hiến ép hầu rượu suốt đêm rồi đem gả cho một gã thổ quan. Trên đường ngồi kiệu hoa, nàng đã trầm mình xuống sông Tiền Đường. May sao, nàng được vãi Giác Duyên cứu vớt.

         Tuy kết duyên với Thuý Vân, Kim Trọng vẫn nhớ thương Kiều, chàng đã cất công đi tìm nàng. May mắn thay, chàng gặp được vãi Giác Duyên. Gia đình Kiều được đoàn tụ. Chiều ý mọi người, Thuý Kiều nối lại duyên với Kim Trọng nhưng cả hai cùng nguyện ước “lấy tình cầm sắt đổi ra cầm kì”.

5. Giá trị nội dung trong Truyện Kiều

         – Giá trị hiện thực của tác phẩm là phản ánh hiện thực xã hội đương thời với bộ mặt tàn bạo của giai cấp thống trị. Sức mạnh của đồng tiền và số phận những con người bị áp bức, nạn nhân của đồng tiền, đặc biệt là người phụ nữ. Gia đình nhà Vương Ông đang sống bình yên, chỉ vì một lời không đâu vào đâu của thằng bán tơ “vu oan giá hoạ”, thế là cuộc sống yên lành bị phá vỡ, tai hoạ ở đâu ập xuống nhà Kiều. Sau cái cớ ấy bọn sai nha tiến vào nhà Kiều cướp phá đánh đập, chúng đã được một lũ quan lại dung túng, bảo hộ, giật dây. Kẻ cầm đầu lũ vô lại đấy đã thẳng thắn đòi: “Có ba trăm lạng, việc này mới xong”. Tên quan xử kiện vụ án của Kiều được Nguyễn Du đặc tả: “Trông lên mặt sắt đen sì”. Hồ Tôn Hiến, tên quan lớn nhất trong Truyện Kiều, đại diện cho triều đình phong kiến với tư cách là một Tổng đốc trọng thần nhưng lại “Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”. Sức mạnh của đồng tiền khi nó nằm trong tay kẻ xấu thật kinh khủng, đồng tiền đã thành một thế lực vạn năng chi phối mọi hoạt động, làm băng hoại lương tâm, nhân phẩm của con người. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã viết về đồng tiền trong Truyện Kiều: “Quan lại vì tiền mà bất chấp công lí, sai nha vì tiền mà tra tấn cha con Vương Ông, Tú Bà, Mã Giám Sinh vì tiền mà làm nghề buôn thịt bán người, Sở Khanh vì tiền mà táng tận lương tâm, Khuyển Ưng vì tiền mà lao vào tội ác, cả một xã hội chạy theo đồng tiền”. Cuộc đời đầy nước mắt của người con gái tài sắc Thuý Kiều cũng bắt đầu từ chính sức mạnh và sự bất nhân của đồng tiền.

         – Giá trị nhân đạo được thể hiện trước hết là sự trân trọng đề cao con người từ ngoại hình, phẩm chất, tài năng khát vọng đến ước mơ và tình yêu chân chính, về ngoại hình, ta thấy Thuý Vân là một thiếu nữ đoan trang phúc hậu, Thuý Kiều đẹp thuộc diện “sắc trung chi thánh”- quá ư là hơn người, hơn đời, Kim Trọng mang vẻ đẹp của một văn nhân thư sinh, Từ Hải đẹp kiểu người anh hùng: vai năm tấc rộng thân mười thước cao. về phẩm chất Thuý Vân là một cô gái ngoan. Kim Trọng – một chàng trai chung tình. Thuý Kiều tài năng (Cầm, kì, thi, hoạ) – một người conhiếu thảo, giàu đức hy sinh, người yêu chung thuỷ. Tình yêu Kim Kiều – Tinh yêu hồn nhiên trong trắng, nó vượt sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến trong thời điểm chế độ phong kiến suy tàn.

READ  Phân tích khổ 4 bài thơ Việt Bắc (ngắn gọn, đầy đủ nhất) | Myphamthucuc.vn

         Bên cạnh đó Truyện Kiều còn lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo đã chà đạp lên quyền sống của con người, đề cao tự do và công lí. Thuý Kiều điển hình cho người phụ nữ trong xã hội xưa, mười lăm năm lưu lạc của nàng là một chuỗi bi kịch. Dường như bao nhiêu nỗi cực khổ của người đàn bà thời trước đều ập xuống vai nàng. Từ một cô tiểu thư khuê các, Kiểu trở thành hàng hoá để cho người ta mua bán, rồi Kiều bị lừa gạt bị rơi vào lầu xanh tới hai lần, đem thân đi làm lẽ, làm đứa ở, rồi bị đánh đòn, lăng nhục trở thành tội phạm ở công đường, bị sỉ nhục, bị rơi vào cảnh giết chồng, kết thúc là phải tự vẫn. Cuộc đời Thuý Kiều là một bản cáo trạng đanh thép tố cáo xã hội phong kiến bất nhân, xã hội ấy làm cho người lương thiện phải tìm đến cái chết. Còn khát vọng tự do và công lý được ông gửi gắm qua nhân vật Từ Hải và màn báo ân báo oán.

         Mặt khác Truyện Kiều còn thể hiện niềm thương cảm sâu sắc trước những đau khổ của con người đặc biệt là người phụ nữ. Nguyễn Du như khóc cùng tiếng đàn và cuộc đời của Thuý Kiều, ông cũng bày tỏ thái độ trân trọng Kiều cho dù có lúc nàng đã là hạng người dưới đáy của xã hội.

         Mặt khác, Truyện Kiều của Nguyễn Du có thể khắc sâu trong lòng nhân dân như vậy còn ở giá trị nghệ thuật. Trong tác phẩm của mình ông đã bộc lộ sự tài hoa, sắc sảo trong nghệ thuật tự sự, miêu tả nhân vật, tả cảnh, sử dụng ngôn từ… hay nói đúng hơn là giá trị nghệ thuật của tác phẩm, về ngôn ngữ: Truyện Kiều là một kiệt tác nghệ thuật, với bút pháp của một nghệ sĩ thiên tài, tiếng Việt trong Truyện Kiều đã đạt đến độ giàu và đẹp. về nghệ thuật tự sự, thành công của Truyện Kiều trên tất cả các phương diện: ngôn ngữ kể chuyện, nghệ thuật xây dựng nhàn vật, nghệ thuật miêu tả – tả cảnh ngụ tình.

         Nhận xét về Nguyễn Du và Truyện Kiều, tác giả Mộng Liên Đường trong lời tựa Truyện Kiều đã viết: “Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thìa, ngậm ngùi, đau đớn đến đút ruột. Tố Như Tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh cũng hệt, đàm tình đã thiết, nếu không có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy” chính là đã khái quát rất tuyệt vời về giá trị của Truyện Kiều trên mọi phương diện.

         Từ quê hương, xã hội, gia đình, cuộc đời, năng khiếu bẩm sinh, đã tạo cho Nguyễn Du có trái tim yêu thương vĩ đại, một thiên tài văn chương với sự nghiệp văn học có giá trị lớn. Ông là đại thi hào của dân tộc Việt Nam, là danh nhân văn hoá thế giới, đóng góp to lớn đối với sự phát triển của văn học Việt Nam. Nguyễn Du và Truyện Kiều sẽ sống mãi với dân tộc và trở thành linh hồn của dân tộc.

5. Giá trị nghệ thuật trong Truyện Kiều

         – Truyện Kiều là sự kết tinh, đỉnh cao  thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc. Ngôn ngữ văn học dân tộc và thể loại truyện thơ Nôm, thể thơ lục bát đạt tới đỉnh cao rực rỡ.

– Về ngôn ngữ:

         + Viết theo văn học dân gian, có vận dụng kết hợp linh hoạt với các ca dao, thành ngữ, điển tích, điển cố vào trong Truyện Kiều.

         + Bộc lộ nội tâm nhân vật bằng cách vận dụng ngôn ngữ độc thoại

         + Thể hiện tính cách và hoàn cảnh nhân vật theo ngôn ngữ đối thoại

– Về cách tả người:

         + Với các nhân vật chính diện: Nguyễn Du đã sử dụng ngòi bút ước lệ, ẩn dụ tượng trưng và dùng cảnh để tả người.

         + Với các nhân vật phản diện: Nguyễn Du lại tả thực một cách hiện thực hoá nhất.

– Cách tả cảnh vật:

         Chủ yếu sử dụng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình sinh động, lựa chọn các hình ảnh, phong cảnh đặc trưng cho nền văn học trung đại.

6. Giá trị của Truyện Kiều

         Truyện Kiều được xem là quốc hồn, quốc tuý của dân tộc. Qua hàng trăm năm qua, Truyện Kiều vẫn luôn tồn tại trong đời sống của dân tộc Việt. Từ đó, lẩy Kiều, trò Kiều, vịnh Kiều, tranh Kiều, bói Kiều… đã phát sinh trong cộng đồng người Việt. Bên cạnh đó, một số nhân vật trong truyện cũng trở thành nhân vật điển hình, như:

         Sở Khanh: chỉ những người đàn ông phụ tình.

         Tú bà: chỉ những người dùng phụ nữ để mại dâm, và thu lợi về mình.

         Hoạn Thư: chỉ những người phụ nữ có máu ghen thái quá,…

         Ngoài ra, Truyện Kiều còn là đề tài cho các loại hình khác, như âm nhạc, hội họa, sân khấu, điện ảnh, thư pháp,… Hiện nay, Truyện Kiều đang được giảng dạy trong môn Ngữ văn lớp 9 và lớp 10 với các đoạn trích được đặt tên như Chị em Thúy Kiều, Cảnh ngày xuân, Kiều ở lầu Ngưng Bích, Mã Giám Sinh mua Kiều, Kiều báo ân báo oán,… ”

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Học tập