Cảm nhận về hình ảnh người lính trong bài thơ đồng chí và bài thơ về tiểu đội xe không kính ngắn gọn nhất | Myphamthucuc.vn

Tổng hợp Cảm nhận về hình ảnh người lính trong bài thơ đồng chí và bài thơ về tiểu đội xe không kính do Top lời giải sưu tầm và biên soạn. Qua dàn ý và các bài văn mẫu được biên soạn ngắn gọn, chi tiết, hay nhất dưới đây sẽ giúp các bạn có thêm tài liệu, các cách hành văn khác nhau, qua đó có thể tiếp cận tác phẩm với cái nhìn đa chiều, mới mẻ hơn. Mời các bạn cùng xem!

1. Phân tích đề

– Yêu cầu của đề bài: so sánh hình tượng người lính trong hai bài thơ Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính.

– Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : những từ ngữ, chi tiết, hình ảnh tiêu biểu trong bài Đồng chí của Chính Hữu và bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.

– Phương pháp lập luận chính : phân tích, so sánh, nêu cảm nhận.

2. Hệ thống luận điểm

– Luận điểm 1: Cảm nhận về hình ảnh người lính trong bài thơ “Đồng chí”

– Luận điểm 2: Cảm nhận về người lính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”

– Luận điểm 3: Những điểm giống và khác nhau về hình ảnh người lính trong hai bài thơ

Dàn ý Cảm nhận về hình ảnh người lính trong bài thơ đồng chí và bài thơ về tiểu đội xe không kính – Mẫu số 1

Mở bài :

– Chính Hữu và Phạm Tiến Duật đều là những nhà thơ mặc áo lính. Họ cũng đều đã từng trải qua những ngày tháng gian khổ mà hào hùng của hai cuộc kháng chiến vĩ đại.

– Đồng Chí (Chính Hữu) và Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật) là hai bài thơ rất thành công viết về đề tài người lính. Dù được sáng tác trong những hoàn cảnh khác nhau nhưng cả hai bài thơ đều xây dựng thành công hình ảnh người chiến sĩ cách mạng.

Thân bài :

1. Hoàn cảnh sáng tác

– Đồng chí được sáng tác vào năm 1948, giai đoạn đầu của cuộc toáng chiến chống Pháp.

– Bài thơ về tiểu đội xe không kính được sáng tác năm 1969, giai  đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang diễn ra khốc liệt nhất.

2. Xuất thân của những người lính

– Người lính trong bài Đồng chí xuất thân là những người nông miền quê lam lũ nước mặn đồng chua, đất cày lên sỏi đá. Họ là những người lính không chuyên, vì yêu nước, căm thù giặc mà ra đi trực tiếp cầm súng chiến đấu.

– Người lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính là những chàng trai trẻ. Họ là những người lính được huấn luyện, đào tạo làm công việc chính là lái xe trên tuyến đường Trường Sơn. Mặc dù không tiếp tham gia chiến đấu nhưng họ cũng góp phần không nhỏ cho cuộc kháng chiến của dân tộc.

3. Tư thế của những người lính

Trong cả hai bài thơ, những người lính đều hiện lên vởi tư thế hiên ngang, bất khuất:

– Trong bài Đồng chí, người lính hiện lên trong tư thế Súng bèn súng, đầu sát bên đầu…

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới luôn sẵn sàng mai phục, chiến đấu với quân thù.

– Trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính, người lính hiện lên trong tư thế

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Đó là tư thế bình thản, đàng hoàng, hiên ngang, sẵn sàng nhìn thẳng vào gian khổ, không hề run sợ, không hề né tránh.

4. Phẩm chất của những người lính

– Tâm hồn tinh tế nhạy cảm, luôn lạc quan, yêu đời:

+ Người lính trong bài Đồng chí ra đi đánh giặc nhưng lúc nào cũng canh cánh bên lòng nỗi niềm nhớ về quê hương, xứ sở – nơi có giếng nước gốc đa, gian nhà không và hình bóng những người thân yêu. Hình ảnh Đầu súng trăng treo cũng là một hình ảnh lãng mạn tuyệt đẹp thể hiện được tâm hồn lãng mạn, trẻ trung, thi vị của người lính trong bài Đồng chí.

+ Vẻ đẹp tâm hồn của người lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính được thể hiện qua những hình ảnh đầy vui tươi, dí dỏm: Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng / Thấy con đường chạy thẳng vào tim. Trên con đường ra trận, thiên nhiên khắc nghiệt cũng trở nên thơ mộng, gắn bó, làm bạn với con người, con đường đến với miền Nam thân yêu luôn ở trong tim mỗi người chiến sĩ.

– Tinh thần bất khuất vượt lên mọi khó khăn, thử thách.

+ Trong bài Đồng chí, người lính phải đối mặt với những thiếu thốn khó khăn về vật chất, với căn bệnh sốt rét rừng quái ác…

+ Trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính, người lính phải đối mặt với những khó khăn,gian khổ khi ngồi sau vô lăng của những chiếc xe không có kính.

+ Họ đều vượt qua mọi khó khăn bằng ý chí, nghị lực phi thường, bằng niềm tin tưởng, lạcquan phơi phới…

– Tinh thần đoàn kết, yêu thương, gắn bó với nhau

+ Đây là chủ dề xuyên suốt bài thơ Đồng chí. ;

+ Hình ảnh Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính cũng đã thể hiện được một cách xúc động tình cảm yêu thương gắn bó với nhau của những người lính lái xe Trường Sơn.

      Tình yêu đất nước, lòng căm thù giặc sâu sắc và ý chí quyết tâm đánh đuổi quân thù là vẻ đẹp đáng khâm phục nhất của những người lính trong cả hai bài thơ.

Kết bài:

      Hai bài thơ được viết vào hai thời điểm khác nhau, với những bút pháp nghệ thuật khác nhau nên đã tạo nên những hình tượng nghệ thuật mang vẻ đẹp riêng, độc đáo. Người lính của thời chống Pháp nhiều suy tư, trăn trở, chiêm nghiệm, còn người lính của thời chống Mỹ lại vui tươi, dí dỏm, hồn nhiên với sức trẻ và nhiệt huyết tràn đầy.

      Hai hình tượng trong hai thi phẩm mang những vẻ đẹp khác nhau nhưng họ đều là đại diện cho phẩm chất, khí phách của con người Việt Nam trong thời đại cách mạng.

Dàn ý Cảm nhận về hình ảnh người lính trong bài thơ đồng chí và bài thơ về tiểu đội xe không kính – Mẫu số 2

Mở bài

– Giới thiệu khái quát về mảng đề tài viết về những người lính cách mạng

– Giới thiệu khái quát về bài thơ “Đồng chí” (Chính Hữu) và bài thơ “Bài thơ về Tiểu đội xe không kính” (Phạm Tiến Duật)

– Nêu vấn đề cần phân tích: So sánh hình ảnh người lính cách mạng qua hai hai bài thơ “Đồng chí” và “Bài thơ về Tiểu đội xe không kính”.

Thân bài

a. Giống nhau

* Hình tượng người lính trong cả hai bài thơ đều hiện lên với những vẻ đẹp đáng quý, đáng trân trọng:

– Là những con người giàu nghị lực, ý chí, luôn sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thử thách bằng niềm tin và tinh thần lạc quan

– Đồng chí:

+ Chính Hữu dường như đã làm hiện lên tất cả mọi khó khăn, gian khổ, thiếu thốn mà những người lính đã phải gánh chịu

+ Những người lính ấy đã vượt lên trên tất cả bằng một nụ cười, hình ảnh “miệng cười buốt giá”

– Bài thơ về tiểu đội xe không kính:

+ Hình ảnh “bụi”, “mưa” vừa là những hình ảnh mang ý nghĩa tả thực nhưng hơn hết đó còn là những hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng cho những khó khăn

+ Nhưng những người lính đã vượt qua tất cả bằng ý chí, nghị lực và niềm tin: điệp từ “không có…ừ thì….”, lặp cấu trúc “chưa cần…” và hàng loạt các hình ảnh “phì phèo châm điếu thuốc”, “nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”,…

– Đều có tình đồng chí, đồng đội gắn bó, bền chặt.

– Đồng chí:

+  Những người lính thấu hiểu mọi nỗi niềm tâm sự, cùng sát cánh bên nhau sẻ chia tất cả mọi điều.

+ Hình ảnh “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”

– Bài thơ về tiểu đội xe không kính:

+ Trên chặng đường hành quân ra trận gian nan, vất vả, những người lính gặp nhau trong thoáng chốc, họ trao nhau những cái bắt tay ấm nồng tình cảm.

+ Với họ, những người cùng chung bát đũa chính là anh em, là gia đình của nhau.

Đều hiện lên với tư thế chủ động, ung dung, sẵn sàng chiến đấu với kẻ thù xâm lược

+ Đồng chí: Hình ảnh đừng “chờ giặc tới” như đã vẽ lên trước mắt chúng ta hình ảnh người lính hiên ngang đứng chờ giặc, không chút lo lắng, sợ hãi.
+ Bài thơ về tiểu đội xe không kính: Tư thế hiên ngang của họ càng được nhấn mạnh và làm bật nổi qua việc sử dụng điệp ngữ “nhìn đất”, “nhìn trời”, “nhìn thẳng”,…

b. Khác nhau

– Hoàn cảnh xuất thân:

+ Đồng chí: Xuất thân là những người nông dân, từ những miền quê khác nhau

+ Bài thơ về tiểu đội xe không kính: xuất thân là những tri thức trẻ.

– Hình ảnh người lính trong bài thơ “Đồng chí” hiện lên với nét mộc mạc, chân chất bởi họ xuất thân là những người nông dân còn những người lính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” lại hiện lên với nét trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch, tếu táo.

c. Lí giải nguyên nhân

– Giống nhau: cùng viết về đề tài người lính với những vẻ đẹp vốn có của họ

– Khác nhau:

+ Đặc trưng của văn học – văn học là lĩnh vực của cái mới, cái sáng tạo, bởi vậy nó không cho phép sự sao chép hay lặp lại.

+ Hoàn cảnh ra đời của hai tác phẩm. 

      Bài thơ “Đồng chí” ra đời vào năm 1948, đây chính là thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp 

      Bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” ra đời vào năm 1969, trong quãng thời gian cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang diễn ra khốc liệt và tàn ác nhất.

See also  Dàn ý nghị luận xã hội về tình mẫu tử (ngắn gọn, hay nhất) | Myphamthucuc.vn

Kết bài

      Khái quát về hình tượng người lính trong hai bài thơ và nêu cảm nghĩ của bản thân.

Cảm nhận về hình ảnh người lính trong bài thơ đồng chí và bài thơ về tiểu đội xe không kính – Bài mẫu 1

Cảm nhận về hình ảnh người lính trong bài thơ đồng chí và bài thơ về tiểu đội xe không kính ngắn gọn nhất (ảnh 2)

    Trong văn học Việt Nam hiện đại, hình ảnh người lính cầm súng bảo vệ tổ quốc thực sự quan trọng, hình ảnh về anh bộ đội cụ hồ trong những năm đầu chống thực dân Pháp và chiến sĩ giải phóng quân miền Nam thời kỳ đánh Mỹ đã được phản ánh khá là rõ net cùng với những vẻ đẹp khác nhau và nó được thể hiện rõ qua hai bài thơ Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.

     Bài thơ Đồng chí được sáng tác vào năm 1948, được in trong tập đầu súng trăng treo. Hình ảnh về người nông dân cầm súng đã được miêu tả ở trong bài thơ cùng với vẻ đẹp mộc mạc, bình dị nhưng cũng thực sự bay bổng.

      Đều là những người nông dân quanh năm lam lũ vơi ruộng đồng, nghe theo tiếng gọi cứu nước, các anh đã tình nguyện giã từ quê hương đi chiến đấu , trong họ rất giàu lòng yêu nước. Họ hiểu đơn giản rằng chiến đấu là bảo vệ cho chính mình và quê hương mái ấm của mình.

      Sự gian nan vất vả, vào sống ra chết đã khẳng định được phẩm chất cao đẹp của những người áo vải. Từ bốn phương trời, không hẹn nhưng họ lại gặp nhau và trở thành đồng đội, đồng chí của nhau.

      Họ quyết tâm dứt khoát ra đi là thế nhưng cũng không khỏi nhớ tới quê hương, gia đinh. Nỗi nhớ của các chiến sĩ thực sự đơn giản và cụ thể biết bao nhiêu : “ruộng nương, giếng nước, gốc đa, mái tranh… “ đều là nơi gắn liền với nơi chôn rau cắt rốn chỗ miền quê nghèo.

      Bài thơ kết thúc bằng một hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng rất sâu sắc:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo”.

       Đó là hình ảnh đơn sơ mộc mạc nhưng đồng thời là lời ca về tình đồng chí thiêng liêng giữa con người đang kề vai sát cánh cùng nhau bảo vệ tổ quốc, mang lại cuộc sống thanh bình cho toàn dân tộc.

      Nếu như bài đồng chí nói về hình ảnh của người lính cụ Hồ ở trong kháng chiến chống Pháp thì bài thơ về tiểu đội xe không kính là hình ảnh của người lính giải phóng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ gian khổ và quyết liệt.

      Người chiến sĩ lái xe ở trên đường Trường sơn vô cùng dung cảm, có sức chịu đựng gian khổ nhưng cũng tràn đầy tinh thần lạc quan .

      Đối đầu với máy bay của giặc Mĩ thì các chiến sĩ lái xe của ta thường ở thế bị động nhưng nhờ vào niềm tin tất thắng đấu tranh giải phóng Miền nam, là chân lí “Thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt dân tộc khảng khái tuyên ngôn. Họ hiểu rằng chiến trường và đồng đội đang cần vũ khí, lương thực, thuốc men… để đủ sức đánh trả quân thù những đòn đích đáng. Chủ quyền độc lập, tự do thiêng liêng của Tổ quốc, của dân tộc thôi thúc họ hành động.

      Mỗi sự gian nan vất vả đều được nhà thơ Phạm Tiến Duật miêu tả bằng những hình ảnh hết sức chân thực, giản dị nhưng lại để lại được ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

      Các chiến sĩ lái xe chấp nhận những khó khăn đó với thái độ vui vẻ, phớt lờ, có pha chút cá tính, ngang tàng.

      Đoạn kết của bài thơ thật đẹp, chất hiện thực cũng nghiệp ngã và bay bổng cùng hòa quyện với nhau :

“Không có kính, rồi xe không có đèn,

Không có mui xe, thùng xe có xước.

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước,

Chỉ cần trong xe có một trái tim”.

      Chiếc xe vận tải quân sự: không kính, không đèn, không mui, thùng xe đầy vết xước do bom đạn giặc. Nhưng xe vẫn chạy đều hướng vào Miền nam thân yêu bởi trong xe luôn có một trái tim đầy nhiệt huyết, đầy trách nhiệm. Hình ảnh trái tim ở trong câu thơ là hình ảnh hoán dụ nghệ thuật rất có ý nghĩa nhằm tôn vinh tầm vóc của những người chiến sĩ lái xe anh hùng và nâng cao lên giá trị về nội dung cả nghệ thuật của bài thơ.

      Bài thơ tiểu đội xe không kính là bài thơ mang đậm chất trữ tình cách mạng, tác giả đã khắc họa hình ảnh người lính bằng chính tấm lòng cảm phục và mến thương sâu sắc.

      Họ là những người tự nguyện dấn thân, vui vẻ trong gian khổ. Với ngôn ngữ giản dị giàu sức gợi cảm sáng tạo, nhịp thơ phong khoáng đã làm nên một cái cái, cái đẹp cho bài thơ.

      Hai bài thơ của nhà thơ chiến sĩ được sáng tác trong hai hoàn cảnh và ở thời điểm khác nhau nhưng lại cùng chung bút pháp lãng mạn và hiện thực sâu sắc nhằm mục đích ca ngợi vẻ đẹp của người chiến sĩ trong việc chiến tranh giữ nước.

Cảm nhận về hình ảnh người lính trong bài thơ đồng chí và bài thơ về tiểu đội xe không kính – Bài mẫu 2

      Đối tượng phản ánh của nền văn học Cách mạng 1945 -1975 chính là tổ quốc, là người lính chiến đấu, là nhân dân anh hùng. Hình tượng người lính trong hai bài thơ Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật là hình tượng đẹp, đã góp phần tô đậm bức chân dung người lính Cụ Hồ với những phẩm chất anh hùng, đáng được ngợi ca.

      Đề tài về người lính là đề tài truyền thống trong văn học, thể hiện vẻ đẹp mạnh mẽ, anh hùng của những con người gánh vác trách nhiệm bảo vệ đất nước, non sông.

      Hình tượng người lính chống Pháp qua bài Đồng chí (Chính Hữu):

      Đồng chí được viết đầu xuân 1948, sau chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947. Với bút pháp hiện thực và lãng mạn, bài thơ đã khắc hoạ hình tượng người lính với những phẩm chất tốt đẹp, ghi dấu ấn những năm tháng gian khổ trong buổi đầu kháng chiến:

      Họ là những người lính xuất thân từ ruộng đồng lam lũ. Rất nhanh chóng, họ gắn bó với nhau bởi mục đích, lí tưởng chung:

“Quê hương anh nước mặn, đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”.

      Vì tổ quốc thiêng liêng và khát vọng cuộc sống hòa bình, tự do, họ sẵn sàng ra đi vì nghĩa lớn, bỏ lại những gì quý giá, thân thiết nhất nơi làng quê:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”

      Cuộc sống nơi rừng sâu nước độc, họ sẵn sàng cùng nhau chịu đựng, san sẻ những khó khăn, thiếu thốn của cuộc đời người lính:

“Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày”

      Trong gian khó, họ đã vun đắp tình đồng chí đồng đội thắm thiết: chia sẻ, thấu hiểu tâm sự của nhau ; đoàn kết gắn bó

“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!

Đêm nay rừng hoang sương muốiĐứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”

      Không chỉ thế, dù cuộc sống có khắc nghiệt đến đâu, kẻ thù có ngoan cố đến thế nào, họ vẫn luôn hướng về ánh sáng, hướng về cái đẹp: “Đầu súng trăng treo”.

      Bài thơ Đồng chí đã làm sống lại một thời khổ cực của cha anh ta, làm sống lại chiến tranh ác liệt. Bài thơ khơi gợi lại những kỉ niệm đẹp, những tình cảm tha thiết gắn bó yêu thương mà chỉ có những người đã từng là lính mới có thể hiểu và cảm nhận hết được.

      Với nhiều hình ảnh chọn lọc, từ ngữ gợi cảm mà lại gần gũi thân thuộc, với biện pháp sóng đôi, đối ngữ được sử dụng rất thành công, Chính Hữu đã viết nên một bài ca với những ngôn từ chọn lọc, bình dị mà có sức ngân vang. Bài thơ đã ca ngợi tình đồng chí hết sức thiêng liêng, như là một ngọn lửa vẫn cháy mãi, bập bùng không bao giờ tắt, ngọn lửa thắp sáng đêm đen của chiến tranh.

      Hình tượng người lính thời chống Mĩ qua bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật)

      Ra đời trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mĩ ác liệt, Bài thơ về tiễu đội xe không kinh đã dựng lại một cách tự nhiên, chân thật cuộc sống chiến đấu gian khổ nhưng phơi phới lạc quan của những chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn.

      Tuy hiện thực chiến tranh vô cùng khốc liệt nhưng người lính lái xe vẫn luôn giữ tư thế hiên ngang, ung dung:

“Ung dung buồng lái ta ngồi,

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

      Xe không có kính khiến cho cả thế giới sinh động pho bay ra trước mắt họ:

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa, như ùa vào buồng lái”

      Thái độ bất chấp gian khổ, hiểm nguy, họ tràn đầy tinh thần lạc quan:

“Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”.

      Ở họ là tình cảm đồng chí đồng đội keo sơn, thắm thiết, bền chặt, cùng vào sinh ra tử, sống chết có nhau:

“Những chiếc xe từ trong bom rơi

Ðã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”

      Ở họ là tinh thần yêu nước, ý chí quyết chiến quyết thắng, tất cả vì miền Nam ruột thịt. Khi nào miền Nam còn bóng giặc là khi đó họ sẵn sàng lên đường. Không có gì có thể ngăn chuyến xe của họ đi tới:

See also  Bài 39 trang 71 SGK Toán 7 tập 1 | Myphamthucuc.vn

“Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

Không có kính, rồi xe không có đèn,

Không có mui xe, thùng xe có xước,

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:

Chỉ cần trong xe có một trái tim.”

      Chính tình đồng chí, đồng đội đã biến thành động lực giúp các anh vượt qua khó khăn, nguy hiểm, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc thân yêu. Sức mạnh của người lính thời đại Hồ Chí Minh là vẻ đẹp kết hợp truyền thống và hiện đại. Họ là hiện thân của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là hình tượng đẹp nhất của thế kỷ “Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi” (Tố Hữu). Chất thơ toát ra từ những hình ảnh độc đáo, từ cảm hứng về vẻ hiên ngang, dũng cảm, sự sôi nổi trẻ trung của những người lính lái xe, từ ấn tượng cảm giác được miêu tả cụ thể, sống động và gợi cảm.

      Hai bài thơ đều khắc họa rất chân thật, sinh động và thành công hình tượng người lính : từ sự mộc mạc, chân chất trong suy nghĩ của những người lính xuất thân từ đồng ruộng trong Đồng chí cho đến cách sống lạc quan, trẻ trung, có phần ngang tàng của những người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính. Chính những điều này đã tạo nên nét riêng độc đáo về hình tượng, để lại dấu ấn trong lòng người đọc.

      Bằng tài năng, những trải nghiệm và sự gắn bó hết mình với cuộc sống của người lính, hai nhà thơ – chiến sĩ Chính Hữu và Phạm Tiến Duật đã có được tiếng nói chung trong cảm hứng ngợi ca về người lính. Vì thế, tuy ra đời trong hoàn cảnh, thời gian khác nhau, cả hai bài thơ đều làm bật lên những phẩm chất cao đẹp, quý báu của người lính Cụ Hồ : tinh thần dũng cảm; ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ; lòng lạc quan yêu đời, tinh thần sẵn sàng chiến đáu hi sinh vì nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc.

      Hình tượng người lính trong hai bài thơ mang vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời đại cách mạng : bình dị nhưng chói sáng tinh thần yêu nước. Đây là hình tượng đẹp, khơi gợi ở người đọc những cảm xúc tự hào, cảm phục và biết ơn sau sắc đối với những người đã không tiếc xương máu của mình quyết tử cho tổ tổ quốc quyết sinh.

Cảm nhận về hình ảnh người lính trong bài thơ đồng chí và bài thơ về tiểu đội xe không kính – Bài mẫu 3

      Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ của dân tộc, đã có rất nhiều nhà văn, nhà thơ đã sáng tạo ra những áng thơ văn thấm đượm tinh thần dân tộc, đó là tình yêu quê hương đất nước, đó là tinh thần đấu tranh quật cường, là tình đồng đội đồng chí trong chiến tranh. Viết về mảng đề tài chiến tranh, các nhà văn, nhà thơ thường có khuynh hướng khắc họa lên những hình tượng người lính, cũng như tình cảm gắn bó, đoàn kết giữa họ như một cách lí giải đến sức mạnh phi thường của quân dân Việt Nam, cũng như những cơ sở, tiền đề cho thắng lợi sau này của Cách mạng Việt Nam, cùng viết về những người lính, cả Chính Hữu và Phạm Tiến Duật đã khắc họa lên hình tượng những người lính thật đẹp, thật đáng trân trọng.

      Bài thơ “Đồng chí” của nhà thơ Chính Hữu và bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật là những bài thơ tiêu biểu trong phong trào thơ ca kháng chiến, đều hướng tới khắc họa hình tượng của những người lính trong chiến tranh. Trong những bức chân dung ấy, những người lính đều hiện lên với bao vẻ đẹp của phẩm chất, của lí tưởng. Họ đều là những người hùng của thời đại, là những con người vô danh nhưng lại là những người mang lại cuộc sống “hữu danh” cho chúng ta ngày hôm nay, họ đều là những người sẵn sàng dâng hiến cả cuộc đời cho nền độc lập, tự do cho dân tộc, đất nước Việt Nam.

      Tuy có những điểm tương đồng trong lí tưởng, trong phẩm chất nhưng hình ảnh của những người lính trong thơ của Chính Hữu và trong thơ của Phạm Tiến Duật lại mang những vẻ đẹp tiêu biểu riêng cho từng thời đại, thể hiện được tài năng cũng như tư tưởng sâu sắc riêng của mỗi nhà thơ. Trước hết ta đi tìm hiểu về hình tượng người lính trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu. Bài thơ này được viết trong thời kì kháng chiến chống Pháp, Chính Hữu không chỉ khắc họa hình tượng người lính mà còn từ những hình tượng độc lập ấy để làm nổi bật hơn tình cảm đồng đội, đồng chí của những người lính.

“Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Tôi với anh đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”

      Những người lính vốn không hề có quan hệ gì trước đó, họ là những người nông dân nghèo đến từ khắp các miền quê nghèo cả nước, hoàn cảnh sống khó khăn lại nghe tiếng gọi của Tổ quốc, họ đã lên đường ra chiến trận cầm súng đấu tranh để bảo vệ cuộc sống của đất nước, của xóm làng, bảo vệ cho cuộc sống cho những người mà họ yêu thương.Vì vậy, từ những người xa lạ, chẳng hề quen biết, vì có cùng lí tưởng cứu nước mà họ gặp nhau, cùng nhau chiến đấu và trở thành những người đồng đội. Trong cuộc sống ác liệt, thiếu thốn, khắc nghiệt của chiến tranh, chiến trường những người lính đã cùng nhau xẻ chia những ngọt bùi, những gian khó trong cuộc sống. Từ đó, họ từ những người đồng đội dần trở nên gắn kết, trở thành những người đồng chí:

“Súng bên súng, đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Đồng chí!”

      Không chỉ nhấn mạnh ở tình đồng chí khăng khít, gắn bó mà nhà thơ Chính Hữu còn làm nổi bật lên những phẩm chất đáng quý ở những người lính, đó là lí tưởng xả thân vì tổ quốc, sẵn sàng dâng hiến tất cả, không chỉ là cuộc đời, tuổi trẻ mà cả sự sống của chính mình, họ coi cái chết nhẹ tựa hồng mao, đi không hẹn ngày về, chính những lí tưởng cao đẹp đó càng làm cho hình tượng những người lính trở nên lộng lẫy, đáng quý hơn:

“Ruộng nương tôi gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính

Đầu súng trăng treo”

      Nếu như bài thơ “Đồng chí” được sáng tác vào cuộc kháng chiến chống Pháp thì bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” lại được Phạm Tiến Duật sáng tác trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, nói đến thời gian sáng tác bởi yếu tố thời đại có sự chi phối rất lớn đến ngòi bút của nhà văn. Ở trong tác phẩm của mìn, nhà thơ Phạm Tiến Duật xây dựng lên hình ảnh của những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn với tất cả những vẻ quyết tâm, lí tưởng dâng hiến hào hùng mà không kém phần đáng yêu bởi chính những nét trẻ trung, tinh thần lạc quan của họ trước những khó khăn, họ hồn nhiên kể về những chiếc xe không kính bởi bom đạn của chiến tranh:

“Không có kính không phải xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

      Những chiếc xe cùng đồng hành với những người lính lái xe vượt qua không khí hủy diệt đầy dữ dội của bom đạn, những chiếc xe bị tàn phá nặng nề, những tấm kính vỡ đi khiến cho diện mạo của chúng cũng thật lạ lùng. Nhưng những hủy hoại về vật chất ấy có đáng kể chi, những người lính vẫn ung dung lái xe, thực hiện nhiệm vụ chi viện của mình. Ngồi giữa buồng lái trống trải, những người lính vẫn mang những khát vọng đấu tranh, khát vọng hòa bình cho dân tộc, những khát vọng đó không được hoa mĩ miêu tả mà đơn thuần chỉ thể hiện qua ánh mắt “nhìn thẳng” của họ. Những người lính lái xe còn hiện lên với vẻ lạc quan, yêu đời lại có những nét hồn nhiên, đáng yêu:

“Không có kính, ừ thì có bụi

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”

      Vậy là những người lính không những không bị những khó khăn, không bị mưa bom bão đạn làm nhụt ý chí mà ngược lại họ còn chủ động chung sống với những khó khăn, thậm chí lấy đó làm niềm vui cho cuộc sống, hình ảnh những người lính hiện lên mới thật chân thực làm sao, bởi họ không chỉ có những phẩm chất kiêu bạc, ngạo nghễ của những người anh hùng mà còn tồn tại cả những nét đáng yêu, lạc quan, ung dung của những con người luôn tin tưởng vào sự tất thắng trong tương lai, tồn tại những phẩm chất rất con người. Lí tưởng của những người lính lái xe cũng làm ta cảm phục, ngưỡng mộ “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước/ Chỉ cần trong xe có một trái tim”

      Cả “đồng chí” của Chính Hữu và bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật đều xây dựng lên những bước tượng đài về những người lính, họ đều là những con người sống tình nghĩa cùng lòng yêu nước mãnh liệt, tinh thần đấu tranh quật cường mạnh mẽ.

Cảm nhận về hình ảnh người lính trong bài thơ đồng chí và bài thơ về tiểu đội xe không kính – Bài mẫu 4

Cảm nhận về hình ảnh người lính trong bài thơ đồng chí và bài thơ về tiểu đội xe không kính ngắn gọn nhất (ảnh 3)

      Đề tài về người lính là một mảnh đất màu mỡ được nhiều nhà thơ, nhà văn khám phá, tìm hiểu với nhiều tác phẩm hấp dẫn, độc đáo. Hình ảnh người lính dưới ngòi bút của mỗi nhà văn hiện lên với những nét riêng và Chính Hữu, Phạm Tiến Duật cũng góp phần làm phong phú thêm mảng đề tài ấy qua hai tác phẩm tiêu biểu – bài thơ “Đồng chí” và bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Hình tượng người lính trong hai bài thơ hiện lên vừa có những điểm giống nhau nhưng đồng thời cũng có những điểm khác biệt.

See also  Trắc nghiệm GDQP 10 Bài 3. Đội ngũ từng người không có súng | Myphamthucuc.vn

      Trước hết có thể thấy, hình tượng người lính trong hai bài thơ hiện lên giống nhau ở những phẩm chất, vẻ đẹp đáng trân quý. Hình ảnh người lính trong cả hai bài thơ đều là những người giàu nghị lực, không ngại khó khăn, gian khổ và sẵn sàng vượt lên trên tất cả bằng ý chí, niềm tin và tinh thần lạc quan. Đọc bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu, chắc hẳn chúng ta sẽ không thể nào quên được những câu thơ:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày.

      Bằng những hình ảnh chân thực, rõ nét, Chính Hữu dường như đã làm hiện lên tất cả mọi khó khăn, gian khổ, thiếu thốn mà những người lính đã phải gánh chịu trong cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc. Là những cơn sốt rét rừng đến run người, là thiếu thốn về vật chất – “áo rách vai”, “quần vài mảnh vá”, “chân không giày”. Nhưng có lẽ những khó khăn, thiếu thốn ấy không thể làm cho các anh nao núng, những người lính ấy đã vượt lên trên tất cả bằng một nụ cười, hình ảnh “miệng cười buốt giá” đã cho chúng ta thấy rõ được tinh thần lạc quan, ý chí, nghị lực trong các anh. 

      Không chỉ trong bài thơ “Đồng chí”, bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” cũng đã khắc họa vẻ đẹp này của những người lính:

Không có kính ừ thì có bụi

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha

Không có kính ừ thì ướt áo

Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời

Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng, gió lùa mau khô thôi.

      Trên con đường hành quân ra trận, trên tuyến đường Trường Sơn với biết bao mưa bom, bão đạn và hiểm nguy nhưng những người lính lái xe đã nỗ lực vượt lên trên tất cả. Có thể thấy, những hình ảnh “bụi”, “mưa” vừa là những hình ảnh mang ý nghĩa tả thực nhưng hơn hết đó còn là những hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng cho những khó khăn, vất vả mà những người lính gặp phải trên đường ra trận. Nhưng những người lính đã vượt qua tất cả, ý chí, nghị lực và niềm tin của những người lính được thể hiện rõ nét qua việc sử dụng điệp từ “không có…ừ thì….” cùng việc lặp lại cấu trúc “chưa cần…” và hàng loạt các hình ảnh chân thực thể hiện rõ ý chí, tinh thần lạc quan của các anh như “phì phèo châm điếu thuốc”, “nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”, “chưa cần thay lái trăm cây số nữa”,…

      Thêm vào đó, những người lính trong cả hai bài thơ đều có tình đồng chí, đồng đội gắn bó bền chặt, keo sơn, thắm thiết. Trong bài thơ “Đồng chí”, tình đồng đội hiện lên thật đẹp và thể hiện rõ nét trong toàn bộ bài thơ. Ở đó, những người lính thấu hiểu mọi nỗi niềm tâm sự, cùng sát cánh bên nhau sẻ chia tất cả:

Quê hương anh nước mặn, đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.

Súng bên súng, đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

Đồng chí!

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

      Những người lính ấy, họ xuất thân từ những miền quê khác nhau, đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, cùng chung lí tưởng, chung mục đích phấn đấu và trở thành những người đồng chí, đồng đội, cùng chung chăn. Và để rồi, họ thấu hiểu hết mọi nỗi niềm của nhau, thấu hiểu cảnh ngộ, thấu hiểu mục đích lí tưởng và tình yêu quê hương, đất nước thiết tha. Đồng thời, những người lính ấy họ đã cùng nhau vượt qua bao vất vả, thiếu thốn và cả những bệnh tật nơi chiến trường hiểm ác với cái thiên nhiên hoang dã, dữ dội và để rồi, những tình cảm thiêng liêng, đáng trân quý ấy ở họ đã kết tinh thật sắc nét qua câu thơ “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Hình ảnh “tay nắm lấy bàn tay” là một hình ảnh thơ độc đáo và giàu ý nghĩa, đó là cái bắt tay để gắn chặt thêm tình đồng chí, đồng đội, là cái bắt tay trao cho nhau hơi ấm của tình yêu thương, trao cho nhau động lực, niềm tin để chiến đấu và chiến thắng.

      Đọc bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật chúng ta cũng thấy hiện lên tình đồng chí, đồng đội cao đẹp, đáng trân quý:

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi

      Trên chặng đường hành quân ra trận gian nan, vất vả, những người lính gặp nhau trong thoáng chốc, qua những ô cửa kính đã vỡ vì bom đạn của chiến trường, họ trao nhau những cái bắt tay ấm nồng tình cảm. Cái bắt tay ấy đã trao đi biết bao niềm tin, bao động lực để các anh cùng nhau phấn đấu, cố gắng trên chặng đường ra trận hiểm nguy. Và đồng thời, với những người lính lái xe, tình cảm đồng đội, tình anh em của họ cũng thật giản dị mà đơn sơ, với họ, những người cùng chung bát đũa chính là anh em, là gia đình của nhau, họ sẵn sàng cùng nhau yêu thương, gánh vác và san sẻ mọi nỗi niềm.

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy. 

      Cùng với đó, người lính trong cả hai bài thơ đều hiện lên với tư thế chủ động, sẵn sàng chiến đấu. Đọc bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu, chắc hẳn người đọc sẽ không thể nào quên những câu thơ:

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo

      Trên cái nền của thiên nhiên, giữa màn đêm nơi chốn núi rừng hoang sơ, khi sương muối đã bủa vây lấy tất thảy mọi thứ, ấy vậy mà những người lính ấy vẫn không nao núng, vẫn ung dung, hiên ngang đứng “chờ giặc tới”. Hình ảnh đừng “chờ giặc tới” như đã vẽ lên trước mắt chúng ta hình ảnh người lính hiên ngang đứng chờ giặc, không chút lo lắng, sợ hãi.

      Cùng với đó, tư thế hiên ngang, bất khuất của những người lính lái xe trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” cũng hiện lên thật rõ nét:

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa, như ùa vào buồng lái

      Trên con đường ra trận, giữa những trận mưa bom, bão đạn, khiến những chiếc xe vỡ cửa kính, nhưng tất cả những điều đó chẳng thể nào ngăn được bước chân của các anh. Những người lái xe ấy vẫn “ung dung” giữ vững tay lái của mình, vẫn hiên ngang nơi buồng lái để ra trận, hoàn thành nhiệm vụ của mình. Đặc biệt, tư thế hiên ngang của họ càng được nhấn mạnh và làm bật nổi qua việc sử dụng điệp ngữ “nhìn đất”, “nhìn trời”, “nhìn thẳng”,… Những người lính lái xe ấy không những không sợ mà họ còn sẵn sàng đối diện với tất cả, để nỗ lực vượt qua.

      Như vậy, có thể thấy hình ảnh người lính trong cả hai bài thơ hiện lên có những nét giống nhau, sự giống nhau ấy chính là vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn đáng trân quý. Nhưng ở họ cũng có những điểm khác biệt. Sự khác nhau ấy trước hết thể hiện ở hoàn cảnh xuất thân. Những người lính trong bài thơ “Đồng chí” là những người xuất thân là những người nông dân, từ những miền quê khác nhau của Tổ quốc còn những người lính lái xe trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” lại xuất thân là những chàng trai thành phố, những thanh niên tri thức trẻ. Thêm vào đó, hình ảnh người lính trong bài thơ “Đồng chí” hiện lên với nét mộc mạc, chân chất bởi họ xuất thân là những người nông dân còn những người lính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” lại hiện lên với nét trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch, tếu táo.

      Có thể thấy, hình ảnh người lính trong cả hai bài thơ hiện lên vừa có những điểm chung nhưng đồng thời cũng có điểm khác biệt. Sự giống nhau ấy chính bởi cả hai nhà thơ đều tái hiện hình ảnh người lính với những vẻ đẹp vốn có của họ trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc. Còn sự khác nhau bắt nguồn trước hết từ đặc trưng của văn học – văn học là lĩnh vực của cái mới, cái sáng tạo, bởi vậy nó không cho phép sự sao chép hay lặp lại. Đồng thời, sự khác nhau ấy còn xuất phát từ hoàn cảnh ra đời của hai tác phẩm. Bài thơ “Đồng chí” ra đời vào năm 1948, đây chính là thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp còn “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” lại ra đời vào năm 1969, trong quãng thời gian cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang diễn ra khốc liệt và tàn ác nhất.

      Tóm lại, có thể thấy hình tượng người lính trong cả hai bài thơ hiện lên vừa có những điểm giống vừa có những điểm khác nhau nhưng xét đến cùng cả hai bài thơ đã góp phần làm phong phú, đặc sắc thêm cho mảng đề tài viết về những người lính.

—/—

Thông qua dàn ý và một số bài văn mẫu Cảm nhận về hình ảnh người lính trong bài thơ đồng chí và bài thơ về tiểu đội xe không kính tiêu biểu được Top lời giải tuyển chọn từ những bài viết  xuất sắc của các bạn học sinh. Mong rằng các em sẽ có khoảng thời gian vui vẻ và hữu ích khi học môn Văn!

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Học tập