Cảm nhận bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ năm 2021


Cảm nhận bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ năm 2021

Bài văn Cảm nhận bài thơ Khúc hát ru những đứa bé lớn trên lưng mẹ gồm dàn ý chi tiết, 4 bài văn phân tích mẫu được tuyển chọn từ các bài văn phân tích đạt điểm cao của học sinh trên cả nước giúp bạn đạt điểm cao trong bài kiểm tra, bài thi môn Ngữ văn 9.

Đề bài: Cảm nhận bài thơ Khúc hát ru những đứa bé lớn trên lưng mẹ.

A/ Dàn ý chi tiết

1. Mở bài: Giới thiệu về tác giả, tác phẩm

– Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mĩ.

– “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” sáng tác trong những năm tháng khốc liệt ấy. Nội dung bài thơ

2. Thân bài

– Bài thơ có ba khúc ca, mở đầu mỗi khúc ca là câu hát ru:

“Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi

Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ”

– Khúc ca thứ nhất: Khúc hát ru của người mẹ thương con, thương bộ đội

Giấc ngủ em “nghiêng” theo nhịp chày giã gạo.

Mẹ thương con, giã gạo, nuôi bộ đội

Mong con khỏe mạnh, khôn lớn để “vung chày lún sân”

– Khúc ca thứ hai: Khúc hát ru của người mẹ thương con, thương dân làng

+ Hình ảnh so sánh “lưng núi – lưng mẹ” để nói lên người mẹ kiên nhẫn, chịu đựng gian khổ.

+ Hình ảnh ẩn dụ “mặt trời”

+ Tình thương con mở rộng thành tình thương dân làng.

– Khúc ca thứ ba: Khúc ca chiến đấu, khúc hát ru của người mẹ thương con, thương đất nước

+ Mẹ địu con trên đường vào Trường Sơn chiến đấu

+ Ước mong con gặp Bác Hồ, thành người tự do

+ Tình thương con, thương dân làng trở thành thương đất nước.

3. Kết bài:

– Nêu cảm nhận về bài khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ

– Bài thơ đã khắc họa hình ảnh người mẹ Tà-ôi với trái tim yêu thương, tiêu biểu cho hình ảnh bà mẹ Việt Nam anh hùng.

B/ Sơ đồ tư duy

Cảm nhận bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ năm 2021

C/ Bài văn mẫu

Cảm nhận bài thơ Khúc hát ru những đứa bé lớn trên lưng mẹ – mẫu 1

Kháng chiến chống xâm lược bao giờ cũng là sự nghiệp của toàn dân. Nhưng tìm trong chính sử hoặc trong văn chương thành văn quá khứ thì chỉ thấy gương mặt của vua quan tướng tá, ít thấy bóng dáng người dân thường. Phải đến thời đại chúng ta, giai cấp vô sản lãnh đạo và lập nhà nước kiểu mới, hình ảnh người dân thường mới được thể hiện phong phú trong văn chương nghệ thuật. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, nhiều nhà thơ đã dựng được những đài kỉ niệm kì vĩ ghi lại những chiến công và lòng yêu nước của những con người vô danh ấy. Bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm cũng là một trong những đài kỉ niệm đó.

“Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” được Nguyễn Khoa Điềm sáng tác vào ngày 25 tháng 3 năm 1971 là một trong những bài thơ hay của tác giả. Bài thơ viết về bà mẹ Tây Nguyên luôn luôn địu con trên lưng khi làm việc. Chọn bà mẹ đang nuôi con và đứa con ấp vú mẹ làm hai nhân vật tham gia đánh giặc, tác giả muốn nhấn mạnh tính toàn dân của cuộc kháng chiến. Bài thơ là sự phát triển song song hai mối tình cảm lớn: tình mẹ con và tình dân nước. Hình ảnh người mẹ trong thơ Nguyễn Khoa Điềm vẫn là hình ảnh muôn thủa của bà mẹ Việt Nam, thương con, chịu đựng, tần tảo nuôi dạy con cái nhưng cũng là hình ảnh của người mẹ rất mới: yêu nước, thương dân, bất khuất. Cách đây mấy chục năm, trong kháng chiến chống Pháp có một bà mẹ nằm trong ổ chuối khô nhớ thương con ngoài mặt trận trong thơ Tố Hữu đã làm cho bao nhiêu người xúc động. Với ba khúc ca trong bài thơ của mình Nguyễn Khoa Điềm đã diễn tả tình yêu con và khát vọng của người mẹ dân tộc Tà-ôi trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ, từ đó giúp người đọc thấy được lòng yêu quê hương, đất nước và khát vọng tự do của nhân dân ta trong thời kì lịch sử này. Ở khúc ca thứ nhất, người mẹ ru con khi địu con trên lưng và giã gạo nuôi bộ đội, giấc ngủ em nghiêng theo nhịp chày, thấm mồ hôi lao động vất vả của mẹ?

“Nhịp chày em nghiêng, giấc ngủ em nghiêng

Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi

Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối

Lưng đưa nôi và tim hát thành lời.”

Tiếng ru con “nghiêng” theo nhịp chày làm cho giấc ngủ em cu Tai cũng “nghiêng” theo. Con như đang chia sẻ sự vất vả của mẹ. Má em cũng “nóng hổi” vì bao mồ hôi mẹ tuôn rơi. Hàng loạt hình ảnh hoán dụ (mồ hôi, má, vai, lưng, tim) được sử dụng rất “đắt” thể hiện trái tim yêu thương mênh mông của người mẹ nghèo. Lưng mẹ là chiếc nôi để con lớn lên. Tim mẹ dạt dào tình mẫu tử, đã “hát thành lời”. Hạt gạo hậu phương là “hạt vàng làng ta”; hạt gạo của mẹ nặng tình nghĩa, rất đáng tự hào:

“Mẹ thương a-kay, mẹ thương bộ đội

Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần

Mai sau con lớn vung chày lún sân…”

Ước mơ của người mẹ nối liền với giấc mơ con và hội tụ lại trong tình yêu thương sâu sắc những anh bộ đội. Khúc ca thứ hai là tiếng hát ru khi mẹ đi tỉa bắp trên núi Ka-lưi. Tình thương yêu và niềm hi vọng vô bờ bến của mẹ đối với con được thể hiện bằng những hình ảnh độc đáo:

Mẹ đang tỉa bắp trên núi Ka-lưi

Lưng núi thì to mà lưng mẹ thì nhỏ

Em ngủ ngoan em đừng làm mẹ mỏi

Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi

Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng.

“Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi; Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng”. Hình ảnh mặt trời là một hình ảnh thực, mặt trời đem lại ánh sáng, sự sống cho cây cỏ, làm cho cây ngô thêm tươi tốt, bắp to, hạt mẩy Hình ảnh mặt trời ở câu thơ sau là một ẩn dụ. Tác giả so sánh ngầm cu Tai là mặt trời của mẹ. Coi con như mặt trời thì quả là lòng mẹ yêu quý con vô hạn, mong đợi ở con rất nhiều. Đó là ánh sáng, là nguồn sống, là niềm vui, là niềm hạnh phúc, là tất cả tương lai của mẹ. Hai câu thơ hai hình ảnh tôn nhau lên, đổi ý với nhau đã làm nổi bật tình yêu thương sâu sắc là niềm hi vọng lớn lao của người mẹ đối với đứa con. Lời ru của người mẹ Tà-ôi ngân nga trong trái tim mẹ khi mẹ địu con đi tỉa bắp vẫn hướng về đứa con yêu quý của mình. Lòng thương yêu con của người mẹ trong hoàn cảnh này gắn liền với tình thương dân làng – những người lao động nghèo đói:

See also  Nêu suy nghĩ của em về Bác Hồ, vị lãnh tụ của nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới năm 2021

“Mẹ thương a-kay, mẹ thương làng đói

Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều

Mai sau con lớn phát mười Ka-lưi”

Nhịp điệu vang lên dồn dập. Đó là lúc “Thằng Mĩ đuổi ta phải rời con suối”, dồn đồng bào Tà-ôi vào chỗ chết, mẹ địu con khi đang “chuyển lán” và “đạp rừng”. Khi cả gia đinh đều ra trận:

“Anh trai cầm súng, chị gái cầm chông

Mẹ địu em đi để giành trận cuối

Từ trên lưng mẹ, em đến chiến trường

Từ trong đói khổ, em vào Trường Sơn”

Giặc Mĩ tàn bạo đã tàn phá làng mạc của họ, đạp đổ ngôi nhà, tổ ấm của mẹ con họ. Nhưng lũ giặc Mĩ không khuất phục được người mẹ. Khúc ca thứ ba là khúc ca chiến đấu; “Giặc đến nhà đàn bà cùng đánh” là truyền thống anh hùng của người phụ nữ Việt Nam. Ở đây, người mẹ địu con ra trận, đi tiếp tế, đi tải đạn vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Đó là giấc mơ tình thương, giấc mơ về ấm no, hạnh phúc, giấc mơ chiến thắng. Tiếng hát ru con của bà mẹ Tà-ôi không phải được cất lên bên cánh võng hay trên giường ấm nệm êm trong phòng ngủ. Tiếng hát ru ấy cất lên trong trái tim người mẹ. Tình mẫu tử thì có thể nói mãi không hết. Nguyễn Khoa Điềm đã cố gắng nói ít nhưng để ta thấy được cái chất của tình mẹ ấy: tha thiết đằm thắm như mọi tình mẹ con truyền thống Việt Nam, nhưng lại có cái cao rộng của thời đại cách mạng. Bà mẹ Tà-ôi là một bà mẹ lao động, trực tiếp sản xuất, phục vụ cuộc chiến đấu của toàn dân tộc. Tình thương con, thương bộ đội, thương dân làng, thương đất nước hòa quyện vào nhau trong tấm lòng của bà mẹ miền núi yêu nước trong những năm tháng chống Mĩ khó khăn, gian khổ. Theo lời ru (và theo tình yêu thương của mẹ), theo bước chân của bà mẹ Tà-ôi, không gian cũng được mở rộng dần: từ sân (khi mẹ giã gạo) đến ngọn núi Ka-lưi (khi mẹ tỉa bắp) rồi đến những rừng, những suối (khi mẹ chuyển lán, đạp rừng). Và ước mơ khát vọng của mẹ gửi gắm qua lời hát ru tha thiết, nặng tình nặng nghĩa ấy cũng một lúc một lớn dần: từ “con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều”…; từ mong muốn “Mai sau con lớn vung chày lún sân” đến ao ước “Mai sau con lớn phát mười Ka lưi” cuối cùng bùng lên thành khát vọng cháy bỏng:

“Mai sau con lớn làm người Tự do”

Bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” xứng đáng là bài ca lòng mẹ Việt Nam. Một đứa con chỉ có thể lớn lên bằng dòng sữa mẹ, bằng lời ru, tình thương của mẹ. Bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm là tượng đài tráng lệ về bà mẹ Việt Nam “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Nó nhắc nhớ mỗi chúng ta ghi sâu trong lòng tình cảm kính yêu và biết ơn mẹ hiền.

Cảm nhận bài thơ Khúc hát ru những đứa bé lớn trên lưng mẹ – mẫu 2

Viết về bà mẹ Việt Nam trong thời chống Mĩ, bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm là một bài thơ độc đáo và rất hay. Nó đã được phổ nhạc thành ca khúc từng làm rung động hàng triệu trái tim.Bà mẹ được nói đến là bà mẹ người Tà-ôi có một tình thương mênh mông: thương con, thương làng đói, thương bộ đội, thương đất nước. Bài thơ có ba khúc ca được sáng tạo theo âm điệu dân ca, điệu ru con của đồng bào Tà-ôi trên miền núi Trị – Thiên. Mở đầu mỗi khúc ca là một điệp khúc ngọt ngào tha thiết:

“Em Cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi!

Lưng đưa nôi và tim hát thành lời.”

Tiếng ru con “nghiêng” theo nhịp chày làm cho giấc ngủ em cu Tai cũng “nghiêng” theo. Con như đang chia sẻ sự vất vả của mẹ. Má em cũng “nóng hổi” vì bao mồ hôi mẹ tuôn rơi. Hàng loạt hình ảnh hoán dụ (mồ hôi, má, vai, lưng, tim) được sử dụng rất “đắt” để thể hiện trái tim yêu thương mênh mông của người mẹ nghèo. Lưng mẹ là chiếc nôi để đưa con lớn lên. Tim mẹ dạt dào tình mẫu tử, đã “hát thành lời”. Hạt gạo hậu phương là “hạt vàng làng ta”; hạt gạo của mẹ nặng tình nặng nghĩa, rất đáng tự hào.Khúc ca thứ hai là tiếng ru khi mẹ tỉa bắp trên núi Ka-lưi. Người người cần cù và đảm đang vừa địu con, vừa làm rẫy. So sánh “lưng núi” với “lưng mẹ” nhằm khẳng định đức tính kiên nhẫn, chịu đựng gian khổ của người mẹ nghèo

“Mẹ đang tỉa bắp trên núi Ka-lưi

Lưng núi thì to mà lưng mẹ nhỏ”

“Mặt trời” trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là một hình ảnh ẩn dụ nói lên tình thương, niềm tự hào của mẹ đối với Cu Tai, vì em là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của mẹ:

Khúc ca thứ ba, nhịp điệu vang lên dồn dập. Đó là lúc “thằng Mĩ đuổi ta phải rời con suối”, dồn đồng bào Tà-ôi vào chỗ chết, mẹ địu con khi đang “chuyển lán” và “đạp rừng”. Khi cả gia đình đều ra trận. Khúc ca thứ ba là khúc ca chiến đấu. “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” là truyền thống anh hùng của người phụ nữ Việt Nam. Ở đây, người mẹ địu con ra trận, đi tiếp tế, đi tải đạn vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Mẹ thương a-kay, mẹ thương đất nước. Trong bài thơ, Nguyễn Khoa Điềm ba lần nói đến giấc mơ đẹp của bé thơ:

“Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần.

Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều

Mai sau con lớn phát mười Ka-lưi.

Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ

Mai sau con lớn làm người Tự do…”

Đó là giấc mơ tình thương, giấc mơ về ấm no, hạnh phúc, giấc mơ chiến thắng. Bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” xứng đáng là bài ca lòng mẹ Việt Nam. Mọi đứa con chỉ có thể lớn lên bằng dòng sữa, bằng lời ru, tình thương của mẹ. Bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm là tượng đài tráng lệ về bà mẹ Việt Nam “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Nó nhắc nhở mọi chúng ta ghi sâu trong lòng tình cảm kính yêu và biết ơn người mẹ hiền.

See also  Soạn bài Kể lại một kỉ niệm của bản thân Ngữ văn lớp 6

Cảm nhận bài thơ Khúc hát ru những đứa bé lớn trên lưng mẹ – mẫu 3

Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ, chiến sĩ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Trong những ngày gian khổ và ác liệt ấy, bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ ra đời. Bài thơ làm nổi bật hình ảnh người mẹ Tà-ôi – người mẹ yêu con, yêu nước, nuôi dưỡng trong con tình yêu làng quê, đất nước và ý chí giải phóng quê hương.Mở đầu bài thơ là lời ru hời như để vỗ về đứa bé vào giấc ngủ say nồng:

“Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi

Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ.”

Hai câu thơ này được lặp lại nhiều lần ở đầu mỗi khúc ru, giúp cho bài thơ nhẹ nhàng và sâu lắng. Đây là lời của tác giả nói với đứa bé nhưng chứa đựng tình yêu thương của người mẹ. Người mẹ yêu con và yêu thương các chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc nên mẹ vừa địu con vừa giã gạo:

“Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội

Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng.”

Hai câu thơ vừa diễn tả được sự cực nhọc trong công việc giã gạo của mẹ lại vừa diễn tả giấc ngủ không mấy thoải mái của em cu Tai. Những giọt mồ hôi vất vả của mẹ rơi xuống đã làm em như cũng cảm nhận được sự nặng nhọc của mẹ; em đã ngủ ngon cho mẹ yên lòng làm việc. Quả thật việc giã gạo là rất khó khăn, vất vả để biến hạt thóc thành hạt gạo trắng ngần để phục vụ kháng chiến:

“Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi

Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối

Lưng đưa nôi và tim hát thành lời.”

Mẹ vừa địu con yừa phải giã gạo nhưng mẹ vẫn cố tạo ra sự thoải mái cho con có được giấc ngủ say. Hình ảnh “vai gầy” làm gối của mẹ còn gợi xúc động trong lòng người đọc. Nỗi vất vả, nhọc nhằn được hiện ra trong khúc hát ru. Tác giả đã khai thác thành công nghệ thuật so sánh: đôi vai gầy của mẹ làm gối đưa con ngủ, lưng mẹ làm nôi và nhịp tim của mẹ hát thành lời thắm thiết, Lời mẹ ru con thắm thiết như tiếng nói tâm tình của người mẹ:

“Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi

Mẹ thương a-kay, mẹ thương bộ đội.”

Lời ru của mẹ chất chứa tình yêu thương đối với đứa con. Mẹ mong con sẽ có những giấc mơ đẹp là có hạt thóc trắng ngần để nuôi bộ đội đánh giặc. Và mẹ mong con lớn nhanh để “vung chày lún sân”. Trong ước mơ của mẹ chứa đựng niềm hi vọng con mình lớn lên sẽ trở thành một thanh niên khỏe mạnh để giúp ích cho nước, cho dân. Tình mẹ con ở đây ngày càng đẹp hơn bởi nó gắn với tình yêu quê hương, đất nước.Nhà thơ ru cho em bé ngủ ngoan để mẹ yên tâm làm việc:

“Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi

Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ.”

Hình ảnh người mẹ tỉa bắp trên núi Ka-lưi thật cảm động trong lòng người đọc, Núi rừng rộng lớn nhưng sức mạnh có hạn. Lời ru của mẹ đã mô tả được công việc khó khăn, vất vả mà mẹ phải gánh vác. Vì thế đứa con là niềm an ủi, niềm hi vọng của người mẹ.

“Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi

Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng.”

Biện pháp ẩn dụ mang nhiều ý nghĩa. Cây bắp sống được là nhờ có ánh sáng của mặt trời còn mẹ vượt qua được tất cả sự cực nhọc cũng là nhờ có con. Hằng ngày mẹ đều địu em cu Tai trên lưng, hơi ấm của mẹ truyền cho em và mẹ cảm nhận được em lớn lên từng ngày trên lưng mình. Địu con lên núi, lời ru của mẹ chứa biết bao tâm sự:

“Ngủ ngoan a kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi

Mẹ thương a-kay, mẹ thương làng đói

Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều

Mai sau con lớn phát mười Ka-lưi.”

Ước mơ của mẹ dần lớn hơn. Càng thương con thì mẹ càng “thương làng đói”. Tình thương con mở rộng ra tình thương dân làng. Vì thế mẹ mong trong giấc mơ của con “hạt bắp lên đều”. Mẹ mong cho các anh bộ đội có đủ cơm ăn, mong cho dân làng có lương thực để sống và mong cho con của mẹ có một tương lai tốt đẹp hơn. Từ việc mong cho con mình khỏe mạnh, giờ đây mẹ mong cho con trở thành người lao động giỏi, làm ra lương thực để nuôi làng.Nếu như ở hai đoạn thơ trước, nhà thơ miêu tả cảnh mẹ địu con lên núi tỉa bắp thì ở đoạn thơ này nhà thơ tả cảnh mẹ cùng con đi đánh giặc

“Mẹ đang chuyển lán, mẹ đi đạp rừng

Thằng Mĩ đuổi ta phải rời con suối

Anh trai cầm súng, chị gái cầm chông

Mẹ địu em đi để giành trận cuối.”

Động từ “đi” được sử dụng đến hai lần, gợi được tư thế chủ động khi đối mặt với bọn địch, quyết tâm đánh giặc để giữ đất nước. Mẹ cùng em cu Tai trực tiếp tham gia trận đánh cùng với anh trai, chị gái. Mẹ làm việc gian nan ấy là vì con, vì làng xóm và vì dân tộc. Dẫu công việc có khó khăn đến đâu thì mẹ cũng sẵn sàng vượt qua tất cả. Hai chữ “trận cuối” thể hiện cả một niềm tin chiến thắng. Người mẹ giờ đây khoác lên vai mình một nhiệm vụ mới, một tầm vóc mới. Thật xúc động trước cảnh em cu Tai:

“Từ trên lưng mẹ em đến chiến trường

Từ trong đói khổ em vào Trường Sơn.”

Em cu Tai vẫn còn nằm trên lưng mẹ mà như đã khôn lớn để cùng mẹ lên đường vào Trường Sơn đánh giặc, nơi có biết bao vất vả và cái chết đang rình rập. Người mẹ Tà-ôi đã được nâng lên thành người mẹ Tổ quốc. Mẹ đã dùng chính tấm lưng gầy của mình để nuôi dưỡng những anh hùng cho cuộc kháng chiến. Mẹ ru con và mong cho con hạnh phúc:

“Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi

Mẹ thương a-kay, mẹ thương đất nước

Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ

Mai sau con lớn làm người Tự do.”

Bên cạnh tình thương con, mẹ còn thương bộ đội, thương làng đổi, thương đất nước. Tình cảm và ước mơ của mẹ ngày càng rộng lớn hơn.Mẹ mong cho con được gặp Bác Hồ, mong đất nước được tự do. Bởi Bác Hồ luôn là nguồn động viên, là biểu tượng sáng chói của cách mạng. Lời ru kết lại là hình tượng em cu Tai sẽ trở thành người tự do của một đất nước hòa bình.Bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ đã khắc họa thành công hình tượng người mẹ Tà-ôi, người mẹ của Tổ quốc với những phẩm chất đáng quí và là biểu tượng của người mẹ Việt Nam anh hùng.

See also  Câu hỏi ôn tập bài Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất chọn lọc

Cảm nhận bài thơ Khúc hát ru những đứa bé lớn trên lưng mẹ – mẫu 4

Nguyễn Khoa Điềm được biết đến là một trong những gương mặt nổi bật trong các thế hệ nhà thơ chống Mĩ cứu nước. Thơ của ông không câu lệ về hình thức, về câu từ hoa mĩ mà rất nhẹ nhàng, đơn giản, tự nhiên, đời thường. Với ngôn ngữ mộc mạc, giản dị nhưng vô cùng thấm thía ấy, ông đã sáng tác rất nhiều những tác phẩm tiêu biểu như Đất ngoại ô, Cửa thép, Mặt đường khát vọng… Nổi bật số đó là tập thơ “Đất và khát vọng”, trong đó, tiêu biểu là bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”.

Bài thơ được viết vào năm 1971, đây là thời kì chiến tranh khốc liệt, gian khổ của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Cuộc sống của nhân dân gặp rất nhiều những khó khăn, gian khổ, bấp bênh, thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần. Bài thơ có cấu trúc lặp lại ba phần tương ứng với ba lời hát ru. Đây cũng là một nét đặc trưng của những khúc hát ru, tạo nên âm điệu nhịp nhàng, tha thiết, sâu lắng và truyền tải được nhiều thông điệp ý nghĩa.Hình ảnh của người mẹ Tà – ôi được khắc họa trong bài thơ thông qua lời ru của tác giả và trực tiếp qua lời ru của mẹ. Trước hết, qua lời ru của tác giả, người mẹ Tà – ôi có những công việc trong những hoàn cảnh nhất định như địu con để làm công việc của người dân ở chiến khu, làm việc nhà, việc nước, việc kháng chiến. Hình ảnh người mẹ địu con giã gạo nuôi bộ đội trong kháng chiến được khắc họa rất cụ thể:

“Nhịp chày nghiêng, giấc ngủ em nghiêng

Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi

Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối

Lưng đưa nôi và tim hát thành lời…”

Mặc dù trong hoàn cảnh vất vả, mẹ phải địu em ở trên lưng để làm việc nhưng tình yêu của mẹ dành cho con vô cùng sâu sắc. Hai mẹ con đều cùng chung nhịp đập, cùng chung trái tim, cùng chung nhịp chày giã gạo của mẹ. Đôi vai gầy của mẹ “nhấp nhô làm gối”, “lưng làm nôi” và “tim hát thành lời”. Nếu ở đoạn thơ thứ nhất là hình ảnh mẹ làm lụng chăm chỉ để nuôi bộ đội kháng chiến thì đến khổ thơ thứ hai, hình ảnh người mẹ địu con tỉa bắp trên núi Ka-lưi lại khắc họa người mẹ làm công việc lao động sản xuất của người dân ở nơi chiến khu.Hình ảnh có sự đối lập “Lưng núi thì to mà lưng mẹ nhỏ” đã thể hiện sự gian khổ, khó khăn, chịu đựng của người mẹ với rừng núi bao la, mênh mông và sự kiên cường, mạnh mẽ của người mẹ. Hình ảnh đẹp nhất của bài thơ có lẽ là hình ảnh “mặt trời của bắp”. Đây là hình ảnh tả thực, là nguồn ánh sáng quý giá trong vũ trụ, đem lại sự sống cho muôn vật, muôn loài. Ánh sáng đó giúp cây cối vạn vật phát triển, sinh trưởng tốt. Mặt trời tả thực là mặt trời của núi rừng, của thiên nhiên vĩnh hằng, bất biến. Và em Cu – Tai là mặt trời của mẹ. Hình ảnh mặt trời biểu trưng cho nguồn sống, lẽ sống, là nguồn hạnh phúc ấm êm của mẹ. Đây chính là ánh sáng của người mẹ, là niềm động viên, là sức mạnh lớn lao nhất của mẹ trong cuộc sống, để mẹ vượt qua được những nguy hiểm, khó khăn trong cuộc đời. Ở đoạn thơ thứ ba lại là hình ảnh người mẹ địu con để tham gia kháng chiến. Mẹ địu con để tham gia kháng chiến. Tưởng chừng đó là một điều không tưởng nhưng lại được thể hiện rất rõ qua những chi tiết :

“Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi

Từ trong đói khổ em vào Trường Sơn…”

Mẹ xông pha vào chiến trường, đấu tranh với giặc Mĩ. Người mẹ hiện lên với hình ảnh lớn lao, kì vĩ và anh dũng hơn bao giờ hết. Qua ba đoạn thơ, chúng ta hiểu được tấm lòng của người mẹ nơi chiến khu. Người mẹ lặng lẽ, bền bỉ, quyết tâm trong kháng chiến, trong lao động sản xuất.Qua những lời ru trực tiếp của mẹ, ta lại càng cảm nhận được tình cảm thiêng liêng cao quý của người mẹ. Điều này được thể hiện rất rõ qua những chi tiết “Mẹ thương a-kay”, “Con mơ cho mẹ”, “Mai sau con lớn” để nhấn mạnh tấm lòng tha thiết, yêu thương của người mẹ dành cho con. Mẹ mong cho con ngủ ngoan, và mong cho con mau lớn, mau trưởng thành. Tình yêu của mẹ với người con còn được hòa chung trong những tình yêu bao la, rộng lớn, vĩ đại khác: “Mẹ thương a-kay, mẹ thương bộ đội”, “Mẹ thương a-kay, mẹ thương làng đói”, “Mẹ thương a-kay, mẹ thương đất nước”. Với những tình cảm hòa nhập bao la, rộng lớn đã thể hiện hình ảnh cao đẹp của người mẹ.Những ước mơ đẹp, giản dị của người mẹ được gắn liền với những lời nhắn gửi với con của mình “Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần – Mai sau con lớn vung chày lún sân”. Mẹ mong em có sức khỏe tốt, sau này trở thành một chàng trai khỏe mạnh, dũng cảm. “Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều – Mai sau con lớn phát mười Ka- lưi”. Người mẹ mong con sau này sẽ thành một chàng trai dũng mãnh, đem lại lợi ích làm giàu cho quê hương xứ sở. “Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ – Mai sau con lớn làm người tự do”. Mẹ ước mong em trong giấc mơ thấy được Bác Hồ. Đó cũng chính là mơ ước cao đẹp nhất, vĩ đại nhất của người mẹ.

Qua bài thơ, chúng ta cảm nhận được tình cảm bao la của người mẹ dành cho đứa con của mình qua những việc làm, cử chỉ, lời nói, ước mong tha thiết. Với những điều tuyệt vời nhất, mẹ muốn gửi gắm đến đứa con thân yêu những điều lớn lao mà hết sức giản dị. Hình ảnh người mẹ mạnh mẽ, yêu dân tộc, yêu đất nước, sẵn sàng phục vụ kháng chiến cũng được thể hiện rõ nét trong bài thơ. Nguyễn Khoa Điềm đã tạo nên những trang thơ, những khúc hát ru còn mãi trong lòng độc giả

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Văn mẫu