Các đô thị Việt Nam thường có chức năng là | Myphamthucuc.vn

Câu hỏi: Các đô thị Việt Nam thường có chức năng là

A.  trung tâm tổng hợp

B. trung tâm hành chính

C. trung tâm văn hóa – giáo dục

D.trung tâm kinh tế

Đáp án đúng: A

Lời giải chi tiết:

Các đô thị Việt Nam thường có chức năng là trung tâm tổng hợp (các thành phố, thị xã đồng thời cũng là các trung tâm kinh tế, văn hóa – giáo dục, y tế….)

=> Chọn A

Để hiểu rõ hơn về đô thị Việt Nam hiện nay, Toploigiai xin mời các em đọc thêm về đô thị hóa Việt Nam và các ảnh hưởng của nó tới sự phát triển kinh tế và đời sống-xã hội của Việt Nam theo nội dung dưới đây

1. Đô thị hóa là gì?

Chúng ta có thể hiểu ngắn gọn, đô thị hóa là quá trình mở rộng thị trường dựa trên tỷ lệ phần trăm dân số đô thị của một nước trên tổng số dân của toàn khu vực. Hoặc đô thị hóa cũng có thể tính theo diện tích đất xây dựng các thành phố.

Đô thị hóa trong tiếng Anh là Urbanization được hiểu là quá trình mang đến lợi ích cho cộng đồng dân tộc. Đối với các quốc gia có tỷ lệ thu nhập cao là những quốc gia đi đầu trong công cuộc đô thị hóa – hiện đại hóa. Tuy nhiên để đạt được điều này các nước bắt buộc phải có mức thu nhập trung bình là 50 % sau đó mới có nâng lên các mức thu nhập khác.

2. Đặc điểm của đô thị Việt Nam 

a. Quá trình đô thị hoá diễn ra chậm chạp, trình độ đô thị hóa thấp

– Thế kỉ thứ III TCN có đô thị đầu tiên là thành Cổ Loa (kinh đô nhà nước Âu Lạc).

READ  Cách viết lưu bút lớp 12 cảm động nhất | Myphamthucuc.vn

– Thời Phong kiến: một số đô thị được hình thành ở những nơi có vị trí địa lý thuận lợi, với chức năng chính là : hành chính, thương mại, quân sự.

– Thế kỉ thứ XI : xuất hiện thêm thành Thăng Long.

– Thế kỉ XVI – XVIII thêm các đô thị: Phú Xuân, Hội An, Đà Nẵng, Phố Hiến.

– Thời Pháp thuộc: CN chưa phát triển, hệ thống đô thị không có cơ sở mở rộng, các tỉnh, huyện thường được chia với quy mô nhỏ, chức năng của yếu là hành chính, quân sự.

– Đến thập niên 30 của thế kỉ XX các đô thị lớn mới hình thành dựa trên sự phát triển công nghiệp như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Sài Gòn…

– Sau cách mạng tháng 8/1945 đến 1954 không thay đổi nhiều, quá trình đô thị hóa diễn ra chậm.

– Từ 1954 – 1975 đô thị phát triển theo hai xu hướng.

+ Miền Nam: Chính quyền Sài Gòn dùng “đô thị hóa” như một biện pháp để dồn dân phục vụ chiến tranh.

+ Miền Bắc: ĐTH gắn với CNH trên cơ sở đô thị đã có. Từ 1965-1972 ĐTH chững lại do chiến tranh phá hoại.

– Từ 1975 đến nay đô thị hoá chuyển biến khá tích cực, nhưng cơ sở hạ tầng các đô thị (hệ thống giao thông, điện, nước, các công trình phúc lợi XH) còn thấp so với các nước trong khu vực và thế giới.

b. Tỉ lệ dân thành thị tăng

– Năm 1990 : 12,9 triệu người (19,5% dân số cả nước).

– Năm 2005 : 22,3 triệu người (26,9% dân số cả nước).

c. Phân bố đô thị không đều giữa các vùng

– Năm 2006, cả nước có 689 đô thị, trong đó có 38 thành phố, 54 thị xã và 597 thị trấn.

+ Trung du miền núi Bắc Bộ có nhiều đo thị nhất : 167 đô thị (chủ yếu quy mô nhỏ), tiếp theo là : Đồng bằng sông Hồng (118), Đồng bằng sông Cửu Long (133).

READ  Sơ đồ tư duy Truyện Kiều lớp 9 ngắn gọn nhất | Myphamthucuc.vn

+ Đông Nam Bộ là vùng có số đô thị ít nhất : 50 đô thị (có quy mô đô thị lớn nhất nước ta), tiếp theo là Tây Nguyên (54), Duyên hải Nam Trung Bộ (69), Bắc Trung Bộ (98).

– Số thành phố lớn còn quá ít so với số lượng đo thị : TDMNBB có tỷ lệ 9/167, ĐBSH là 7/118, ĐBSCL là 5/133, BTB là 4/98…

– Nếp sống xen giữa thành thị và nông thôn làm hạn chế khả năng đầu tư, phát triển kinh tế.

=>Nguyên nhân :

+ Do nước ta xuất phát điểm nền KT thấp lại chịu hậu quả của chiến tranh.

+ Do đặc điểm KT : nền NN vẫn là ngành KT chủ đạo trong việc nuôi sống đại bộ phận dân số, các ngành CN, DV chưa phát triển mạnh.

3. Mạng lưới đô thị 

Các đô thị Việt Nam thường có chức năng là (ảnh 2)

– Dựa vào các tiêu chí: số dân, chức năng, mật độ dân số, tỉ lệ dân hoạt động phi nông nghiệp…chia làm 6 loại :

+ Loại đặc biệt : Hà Nội, TP Hồ Chí Minh.

+ Loại 1, loại 2, loại 3, loại 4 và loại 5.

– Dựa vào cấp quản lý chia làm 2 loại :

+ Đô thị trực thuộc trực TƯ: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ.

+ Đô thị trực thuộc Tỉnh : Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), Vinh (Nghệ An)…

4. Ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế-xã hội

a. Tích cực

– Có thể nói quá trình đô thị hóa là đòn bẩy lớn nhất trong công cuộc mở cửa hội nhập của  đất nước với các nền kinh tế phát triển trên thế giới.

– Đô thị hoá tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta.

– Các đô thị có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển KT-XH. Đóng góp của đô thị cho cả nước năm 2005:

+ Chiếm 70,4% GDP cả nước.

+ Chiếm 84% GDP của CN-XD

+ Chiếm 87% GDP dịch vụ.

+ Chiếm 80% ngân sách Nhà nước.

– Các đô thị có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương, các vùng trong nước.

READ  Lý thuyết GDCD 11:Bài 3: Quy luật giá trị trong sản xuất và lưu thông hàng hoá | Myphamthucuc.vn

– Các thành phố, thị xã là các thị trường tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa lớn và đa dạng, là nơi sử dụng đông đảo lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật; có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, có sức hút đối với đầu tư trong nước và ngoài nước, tạo ra động lực cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.

– Mang đến hàng ngàn cơ hội nghề nghiệp cho các doanh nghiệp lớn nhỏ trên cả nước. Giải quyết tình trạng thiếu việc làm cho nhân công lao động trên cả nước. Ngoài ra, quá trình này sẽ giúp cho người dân lao động tăng thu nhập lên mức khá.

– Đối với những hoạt động trước kia chưa thực sự phát triển hoặc chưa khai thác hết tiềm năng này sẽ được đưa vào áp dụng các phương pháp tiên tiến khoa học nhất nhằm khai thác tối đa tiềm năng cho ngành nghề dịch vụ đó.

– Đô thị hóa tạo nên thị trường kinh tế mở, các chủ đầu tư có sân chơi lớn hơn thoải mái và tự do trong đầu tư và phát triển không không bị phụ thuộc nhà nước. Bên cạnh đó quá trình đô thị hóa cũng tạo nên thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn và đa dạng hơn.

– Đô thị hóa đẩy nhanh hội nhập thế giới điện tử 4.0 gắn kết thế giới trong thời gian ngắn.

b. Tiêu cực

– Bắt đầu xuất hiện tình trạng phân chia giai cấp tầng lớp giàu nghèo rõ rệt trong xã hội.

– Nhiều tệ nạn xã hội hơn so với thời gian trước khi đô thị hóa.

– Tình trạng ô nhiễm môi trường ở mức báo động đỏ, hàng loạt các thiên tai, hạn hán, hiệu ứng nhà kính, xói mòn, rác… lấn chiếm song song với quá trình đô thị hóa.

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Học tập