Các dạng đề bài Chiều tối chọn lọc


Các dạng đề bài Chiều tối chọn lọc

Tổng hợp các dạng đề văn lớp 11 xoay quanh các tác phẩm đầy đủ các dạng đề đọc hiểu, đề văn phân tích, cảm nhận, nghị luận, … với hướng dẫn chi tiết giúp học sinh ôn tập đạt điểm cao trong các bài thi môn Ngữ văn lớp 11.

1. Dạng đề bài đọc – hiểu (3-4 điểm) 

Câu 1: Nêu cảm nhận của anh (chị) về chất thép và chất tình trong, ba bài thơ đã học của Bác: Chiều tối, Giải đi sớm, Mới ra tù, tập leo núi. Từ chất thép, chất tình đó, anh (chị) hiểu được gì về con người Bác và phong cách thơ Hồ Chí Minh.

* Gợi ý trả lời

+ Đó là nghị lực phi thường và dũng khí lớn của người cộng sản trong hoàn cảnh tù đày:

– Trên đường giải tù: Bị “giải đi sớm” trong đêm tối, gió lạnh, đường xa, nhưng vẫn ung dung, bình tình, chủ động vượt qua hoàn cảnh để chiến thắng hoàn cảnh trong tư thế một người chiến sĩ:

Chinh nhân dĩ tại chỉnh đồ thượng Nghênh diện thu phong trận trận hàn (Người đi cất bước trên đường thẳm Rát mặt đêm thu trận gió hàn.)

Khi mới ra tù, chân yếu, mắt mờ vẫn kiên trì, quyết tâm tập luyện để nhanh chóng về với tổ quốc, đồng bào, đưa phong trào cách mạng tiến lên giành thắng lợi. Người đã tự mình trèo lên đến tận đỉnh Tây Phong Lĩnh cao vời vợi, và chất thép thể hiện ở chỗ người đã ung dung vượt qua và chiến thắng cuộc leo núi vô cùng gian nan, vất vả này: Bồi hồi dạo bước Tây Phong Lĩnh … Đây chính là chất thép trong thơ thể hiện rõ chất thép trong con người, trong cuộc đời thực của Bác lúc bấy giờ.

– Tình yêu thiên nhiên:

Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn    (Giải đi sớm)

+ Núi ấp ôm mây, mây ấp núi

Lòng sông gương sáng bụi không mờ.    (Mới ra tù, tập leo núi)

– Tình yêu con người, yêu cuộc sống:

+ Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết, lò than đã rực hồng. (Chiều tối)

+ Hơi ẩm bao la ôm trùm vũ trụ

Người đi thi hứng bỗng thêm nồng. (Giải đi sớm)

– Tình yêu nước son sắt, cháy bỏng: Thể hiện ở ý nghĩa nhắn tin của bài thơ Mới ra tù, tập leo núi và một số hình tượng thơ trong bài thơ đó:

+ Hình ảnh “Lòng sông gương sáng bụi không mờ” nói lên lòng yêu nước sắt son của Bác.

+ Hình ảnh một con người yêu nước, nhớ nước da diết, muốn về ngay đất nước để hành động:

Bồi hồi dạo bước Tây Phong Lĩnh và như nhớ bạn xưa.

🡪Chất thép và chất tình hòa quyện với nhau tự nhiên, đẹp đẽ như nó vốn là như vậy: trong thép có tình,trong tình ngời ánh thép.

Câu 2: Từ chất thép, chất tình trong thơ Bác ta thấy được được gì về con người Bác và phong cách thơ Hồ Chí Minh

* Gợi ý trả lời

a) Một con người đẹp:đẹp vì thép cứng rắn, vì tình cao cả, nhưng đẹp nhất chính là sự hài hòa giữa thép và tình để làm nên một con người bình thường mà vĩ đại, vừa gần gũi lại khiến mọi người phải kính trọng, khâm phục, yêu quý.

b) Một phong cách thơ đẹp mang nét riêng của nhà thơ Hồ Chí Minh: sự hài hòa lí tưởng, tuyệt đẹp giữa thép và tình, giữa chiến sĩ và thi sĩ như vốn nó có.

=>Từ chất thép và chất tình trong thơ Bác, ta không chỉ hiểu sâu sắc một Con Người Đẹp và một phong cách thơ đẹp mà ta còn rút ra một bài học sâu sắc về đạo làm người và cách làm nghệ thuật.

Câu 3: Những biểu hiện vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh qua bài thơ “Chiều tối”

* Gợi ý trả lời

a. Lòng nhân ái bao la, tình yêu cuộc sống sâu nặng

– Yêu thiên nhiên, tạo vật. Qua bài thơ, hình ảnh thiên nhiên luôn chiếm vị trí nổi bật. Bác nâng niu từng biểu hiện của sự sống: cánh chim, đám mây…
 – Quan tâm tới con người. Dù trong hoàn cảnh nào, Bác cũng không quên nghĩ tới con người. Hình ảnh thiếu nữ xay ngô tối với Bác là vẻ đẹp của cuộc sống bình dị. Ngọn lửa hồng reo vui trong bếp lửa gia đình, lòng Bác như cũng reo vui với nó (dẫn chứng).

b. Một tâm hồn có tinh thần thép vượt qua những đọa đày về thể xác, mọi thử thách khốc liệt về tinh thần.

Qua hình ảnh quyện điểu và cô vân, ta bắt gặp thoáng buồn, thoáng cô đơn rất người của Bác. Nhưng trước ngọn lửa hồng Bác quên đi việc mình chưa được dừng chân trên con đường đày ải mà để lòng mình reo vui cùng ngọn lửa, để hình ảnh tỏa ấm trên trang thơ, xua tan cái lạnh lẽo, cô đơn của lòng người và cảnh vật. Ngọn lửa hồng trở thành vẻ đẹp tinh thần của nhà cách mạng.

c. Một tâm hồn lạc quan, tin tưởng

Kết thúc bài thơ bằng hình ảnh ngọn lửa hồng mang lại cảm giác phấn chấn, lạc quan. Lời thơ vời vợi lòng tin.ánh lửa hồng đó như trở thành nhãn tự của bài thơ khiến cho câu thơ – câu thơ cuối như mở ra một con đường hi vọng niềm tin cho con người màu hồng đó không chỉ là màu hồng của ánh lửa đó còn là màu của hi vọng của những trái tim khao khát sống 1 cuộc sống hạnh phúc tự do

d. Một hồn thơ phong phú

– Thi hứng đã đến với Người trong những giờ phút nặng nề, cực nhọc nhất của cuộc đời, ngay cả trong lúc đối với người bình thường, cảm xúc thơ dễ bị triệt tiêu nhất hoặc không cất lên nổi: Cốt cách thi nhân ở Bác thể hiện ở niềm rung động trước cái đẹp, dù trong cảnh huống nào. 

– Niềm rung động ấy được thể hiện bằng những vần thơ vừa cổ kính, vừa hiện đại của một tâm hồn nghệ sĩ mang cốt cách phương Đông. Hồn thơ Hồ Chí Minh bắt rễ rất sâu vào truyền thống dân tộc, truyền thống phương Đông.

==> Qua đây ta nhận ra rõ vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh với một tâm hồn lạc quan luôn hướng tới những điều tốt đẹp dù trong mọi hoàn cảnh dù khó khăn thử thách.

Câu 4: Tâm trạng của chủ thể trữ tình bộc lộ trong hai câu thơ cuối của bài thơ “Chiều tối” như thế nào? Cho thấy vẻ đẹp tâm hồn nào?

Thiếu nữ xóm núi xay ngô,
 Ngô xay vừa xong, lò than đã đỏ.

* Gợi ý trả lời

Hình ảnh đẹp nhất, tập trung thể hiện vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh là: “Cô em xóm núi xay ngô tối”. Đây là hình ảnh nổi bật trong bức tranh lúc chiều muộn. Nó khẳng định điểm nhìn của nhà thơ không phải là đỉnh trời mà là mặt đất.

Tại sao đây là hình ảnh đẹp nhất?

– Hình ảnh ấy đã hướng người đọc từ cảnh mây trời, chim muông trở về với đời sống con người. 

– Con người trong thơ Bác khoẻ khoắn, nó mang lại niềm vui của lao động, của đời thường. Nó làm dịu đi nỗi cô đơn của người đi đường, nhất là người tù đang khao khát tự do. Bác như hoà vào không khí lao động, đồng cảm với nỗi vất vả của người lao động.

– Cô gái xay ngô và lò than rực hồng gợi tới cảnh gia đình đầm ấm, bộc lộ khát vọng, ước mơ thầm kín của người tù về cuộc sống tự do.

Câu 5: Cảm nhận của em về cảnh trong hai câu thơ đầu qua bút pháp tả cảnh của Hồ Chí Minh?

“Chim mỏi về rừng tìm cây ngủ,
 Chòm mây lẻ trôi lững lờ trên tầng không”

* Gợi ý trả lời

– Màu sắc cổ điển của bức tranh thiên nhiên

+ Thi liệu cổ điển: cánh chim bay về núi và đám mây lẻ loi là những hình ảnh quen thuộc thường thấy trong thơ cổ báo hiệu thời gian cuối ngày, vạn vật tìm đến sự nghỉ ngơi.

+ Bút pháp chấm phá: cánh chim nhỏ bé, đám mây đơn lẻ đủ sức gợi lên một bầu trời mênh mông, hoang sơ và tĩnh lặng.

– Sự cảm nhận thiên nhiên tinh tế, nhạy cảm: vẻ mệt mỏi, nặng trĩu của cánh chim trong dáng bay, sự lẻ loi, chậm rãi trôi của đám mây trên bầu trời. Trạng thái cảnh vật có sự đồng điệu với trạng thái thể chất và chất chứa tâm sự cô đơn, lẻ loi của người tù sau một ngày đày ải nơi đất khách.

– Vẻ đẹp tâm hồn Bác: tâm hồn thi sĩ với tình yêu thiên nhiên và ý chí nghị lực phi thường của một nhà thơ – chiến sĩ: dù mệt mỏi nhưng nhà thơ vẫn ung dung ngắm nhìn cảnh vật để rồi thi hứng đến với Bác hết sức tự nhiên.

=> Bức tranh thiên nhiên mang đậm màu sắc cổ điển; cảnh vật và tâm hồn con người hài hòa, đồng điệu; hình ảnh thơ đẹp nhưng đượm buồn.

Câu 7: Xác định biện pháp nghệ thuật và tác dụng của các biện pháp nghệ thuật trong câu thơ sau?

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
 Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.

* Gợi ý trả lời

– Nghệ thuật điệp liên hoàn kết hợp đảo ngữ: ma bao túc- bao túc ma giàu ý nghĩa:

+ Diễn tả chân thực vòng quay liên hoàn của cối xay ngô

+ Khắc họa hình ảnh cô gái xóm núi vất vả, cực nhọc nhưng khỏe khoắn và hăng say lao động.

+ Diễn tả sự dịch chuyển của thời gian và không gian.

2. Dạng viết bài văn (4-6 điểm)

Đề 1: Phân tích bài “Chiều tối” (Mộ) của Hồ Chí Minh

* Gợi ý trả lời 

I. Mở bài:

Giới thiệu sơ lược về tác giả, nêu cảm nhận chung về tác phẩm

  • Hồ Chí Minh là nhà cách mạng vĩ đại đồng thời là nhà thơ lớn của dân tộc. Ngục trung nhật kí (Nhật kí trong tù) là tác phẩm tiêu biểu, được Bác viết trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt tại Quảng Tây (Trung Quốc), từ mùa thu năm 1942 đến mùa thu 1943.
  • Mộ (Chiều tối) là bài thơ có giá trị nội dung và nghệ thuật độc đáo: Điều khác lạ là bài thơ được viết trong hoàn cảnh người bị giải đi trên đường, với gông cùm xiềng xích, nhưng không phải là một lời than vãn xót xa. Trái lại, đó là một nét hoan ca về cuộc sống, về con người, biểu hiện tâm hồn hết sức đẹp đẽ, nhân cách lớn lao của Hồ Chí Minh.

II. Thân bài:

* Hai câu đầu:

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không

– Hai câu đầu vẽ nên một bức tranh nên thơ, yên bình của cuộc sống, chim bay về rừng tìm chốn trú ngụ, đám mây trôi lững lờ trên bầu trời chiều, chỉ vài nét chấm phá, những bức họa (trong bài thơ có họa) của thơ xưa. Song, phong vị cổ thi ấy do gần gũi về bút pháp. Còn thực ra, đây vẫn là buổi chiều nay, với cảnh thật và người thật (người tù – nhà thơ) đang tận mắt nhìn ngắm.

Bức tranh phong cảnh kia tuy đẹp và nên thơ nhưng vẫn có nét buồn. Quyện nghĩa là mỏi, chán, mỏi mệt. Tầm là tìm kiếm. Cánh chim sau ngày rong ruổi, trong cái giờ khắc của ngày tàn, mỏi mệt, phải trở về rừng đặng tìm kiếm chỗ trú. Cô là lẻ loi, một mình. Mạn mạn là dài và rộng, không là trên bầu trời dài, rộng mênh mông. Bản thân bầu trời vẫn dài rộng như là triệu năm qua, những đám mây đơn lẻ kia đã khiến nó càng trở nên mênh mang hơn. Hai câu thơ, theo đúng nghĩa đen cũng chỉ ra một cảnh buồn. Với người bình thường, thậm chí đang vui, trước cảnh ấy, lòng hẳn không sao tránh một cảm xúc man mác, bâng khuâng. Câu thơ khiến người ta liên tưởng đến một buổi chiều khác, trong thơ cổ:

Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn
Gác mái ngư ông về viễn phố
Gõ sừng mục tử lại cô thôn
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa khách bước dồn
Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn

                                                       (Cảnh chiều hôm – Bà Huyện Thanh Quan)

Buổi chiều xưa không vắng lặng, nhưng lòng người đã tím ngát nỗi buồn. Còn cảnh ở đây, vốn là đơn chiếc. Cảnh ấy nói hộ lòng người, hẳn đang buồn. Đúng thôi, ngay đến cánh chim kia, khi chiều tắt đã vội trở về. Thế mà, giờ này, người tù mắt mờ, chân yếu, lại bị gông cùm, vẫn đang lê bước trên đường dài. Người đó không than vãn, do nhân cách vĩ đại, song ai không cảm được nỗi đau rất thật từ cảnh tình ấy?

* Hai câu cuối

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng

– Hai câu kết chuyển hướng vận động của hình tượng thơ. Ở trên, cảnh vật mênh mông, vắng lặng, ánh nắng ngày đang dần tắt, nhường chỗ cho bóng đêm ập xuống. Còn ở đây, dù không tả nhưng ai cũng biết, đất trời đã vào đêm, bóng tối len dày muôn nơi. Vậy, điều gì khiến người ta cảm nhận được từng bước đi của thời gian, cảm nhận thấy được ánh sáng và bóng tối? Đó là cánh chim đơn lẻ bay về chốn cũ. Đặc biệt, đó là ánh rực hồng của lò than nơi xóm núi. Đây cũng là lối chấm phá, lấy ánh sáng tả bóng tối.

– Nhưng sự chuyển hướng đích thực của hình tượng thơ không chỉ có vậy. Nếu cảnh ở trên mang nét buồn của sự lẻ loi, hoang vắng, thì cảnh ở đây, dù là đêm tối nhưng ấm áp, giàu sức sống. Đôi mắt của người nghệ sĩ ở cảnh trước khi phóng nhìn ra xa và lên cao, càng nhìn càng mất hút và trống trải. Khi đôi mắt ấy nhìn gần, đã bắt gặp hình ảnh không ngờ:

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

– Vóc dáng người thôn nữ cùng với công việc lao động dường như là thường ngày ấy đã xua đi sự cô quạnh giữa miền sơn cước. Và, đến lúc công việc đã xong, thì ánh sáng tràn ngập.

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.

Trong bóng đêm, ánh sáng ấy càng có sức lan tỏa. Lòng người từng man mác buồn đã ấm lại cùng với ánh lửa kia. Đến đây thì sự vận động của hình tượng thơ được trọn vẹn.

III. Kết bài:

“Mộ” là bài thơ rất tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ Hồ Chí Minh Khi sử dụng thể thơ luật Đường, tác giả đã vận dụng khá nhuần nhuyễn bút pháp chấm phá để tả cảnh, lấy động tả tĩnh, đặc biệt là lấy cảnh tả tình. Trong bài thơ, không có từ hay chi tiết nói về chủ thể trữ tình, những người đọc vẫn nhận ra đôi mắt, tấm lòng của con người ấy. Tuy nhiên, dù mang phong vị cổ điển, đây vẫn là bài thơ hiện đại. Chất hiện đại bộc lộ ở sự vận động hình tượng thơ, nhất là ở tấm lòng và tư tưởng của thi nhân. Dù bị gông cùm, xiềng xích, con người đó vẫn hết sức ung dung tự tại, luôn quên mình để nhìn ngắm cuộc sống và rung động với từng biểu hiện, dù chỉ nhỏ nhoi, tinh tế.

Đề 2: Cảm nhận bài “Chiều tối” (Mộ) của Hồ Chí Minh

* Gợi ý trả lời 

I. Mở bài:

Giới thiệu tác giả Hồ Chí Minh và bài thơ Chiều tối trích Nhật ký trong tù

II. Thân bài: Nêu cảm nhận bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh

1. Hai câu đầu: Bức tranh thiên nhiên

  • Con người luôn hướng về thiên nhiên
  • Cảnh chiều tối âm u, hiu quạnh, vắng vẻ
  • Hình ảnh mang tượng trưng cho cảnh chiều tà
  • Hình ảnh chòm mây gợi tả không gian mênh mông, rộng lớn
  • Hình ảnh thiên nhiên mang vẻ đẹp cổ điển, thơ mộng
  • Qua hai câu thơ cảm nhận được ý chí, nghị lực của con người

2. Hai câu thơ cuối: Bức tranh đời sống

  • Những hình ảnh đời sống dân dã, đời thường
  • Bức tranh gần gũi, quen thuộc, mộc mạc
  • Hình ảnh con người lấn át hình ảnh thiên nhiên mênh mông, rộng lớn nhưng vắng vẻ
  • Thể hiện tình yêu thương, quan tâm đến số phận của người lao động nghèo
  • Ước mơ thầm kín về mái ấm gia đình của người nghèo
  • Bừng lên sức sống mãnh liệt của con người

3. Nghệ thuật

III. Kết bài:

–  Khái quát cảm nhận của em về bài thơ một cách ngắn gọn.

Đề 3: Phân tích vẻ đẹp cổ điển và vẻ đẹp hiện đại trong bài “Chiều tối” (Mộ) của Hồ Chí Minh

* Gợi ý trả lời 

I. Mở bài:

– Bài “Chiều tối” trích trong tập thơ “Nhật ký trong tù” là một bài thơ không chỉ mang đến thành công về mặt nội dung mà còn cho thấy tài năng của tác giả về nghệ thuật trong việc sử dụng kết hợp yếu tố cổ điển và hiện đại.

II. Thân bài:

– Yếu tố cổ điển:

+ Thể hiện qua hình ảnh thơ quen thuộc: Cánh chim, chòm mây, con người.

+ Thể hiện qua bút pháp tả cảnh ngụ tình: bộc lộ tâm trạng quá thiên nhiên.

+ Thể hiện qua thời gian nghệ thuật.

+ Thể hiện qua bút pháp điểm xuyết- nhãn tự “hồng”.

– Yếu tố hiện đại:

+ Thể hiện qua tâm trạng nhân vật trữ tình: buồn mà không bị lụy, hành động và cố gắng.

+ Hình ảnh hài hoà giữa thiên nhiên và người lao động, con người nổi bật là trung tâm tác phẩm.

+ Tinh thần lạc quan trong gian khó của Bác Hồ.

+ Tứ thơ vận động theo sự phát triển.

III. Kết bài:

– Khái quát về giá trị của bài thơ

See also  Khóc Dương Khuê - tác giả, nội dung, bố cục, tóm tắt, dàn ý

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Văn mẫu